Cả đời giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống

0
391
Khi dệt, những người phụ nữ ngồi duỗi thẳng chân trên sàn. Hai chân đạp và giữ chặt một thanh chủ của khung dệt và một thanh chủ khác được dùng dây móc vào lưng người dệt để cố định và kéo căng khung sợi. Ảnh: Ngọc Ngà

Ở xã Đưng K’Nớ, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, ngày ngày tiếng thoi đưa lách cách vang lên trong hầu hết những ngôi nhà. Người dân nơi đây vẫn còn sống với nghề dệt thổ cẩm thủ công, có điều bây giờ đa phần họ dệt bằng sợi len tổng hợp mua từ chợ Đà Lạt về. Duy chỉ có ba chị em nhà bà Bon Niêng K’Glòng ở thôn 1 còn cần mẫn giã lá và vỏ cây rừng để nhuộm màu cho sợi, cố giữ lại chút gì nét truyền thống cho những sản phẩm thổ cẩm.

Một thời trồng bông dệt vải

Chúng tôi tìm về nhà bà Bon Niêng K’Glòng, đã 75 tuổi. Trong dòng hồi ức của bà, một thời con gái gắn liền với khung dệt lại quay về.

Thời gian trôi qua nhưng hình như câu chuyện về nghề dệt vẫn chưa bao giờ thôi hấp dẫn với những phụ nữ người Cil, một tộc người thiểu số sống lâu đời ở Lâm Đồng. Trò chuyện với chúng tôi có thêm hai bà Rơ Ông K’Măng và Rơ Ông K’Jong – hai người chị em họ nội của bà K’Glòng. Ba bà sống gần nhau và là những người hiếm hoi còn gìn giữ nghề dệt có nhiều nét truyền thống nhất. Các cô con gái của bà K’Glòng là K’Sen, K’Gút, K’Bớt, K’Nga cũng quây quần lại nghe “chuyện ngày xưa của mẹ”.

Trước đây trong đời sống tự cung tự cấp, người Cil tự trồng bông để lấy sợi dệt vải. Công cụ dệt của họ bao gồm cán bông (tơ rơ ghiết), bật bông (kăm bích), xa quay sợi (khưng), hai khung cuốn sợi (sờ na bờ rài và duỳnh doèng), khung căng sợi và bộ khung dệt. Khác với một vài dân tộc thiểu số ở phía Bắc, người Cil không có khung dệt cố định và kiên cố mà họ chỉ có bộ khung dệt rời bằng các thanh gỗ, tre khá đơn giản. Đến tận bây giờ, khung dệt vẫn được họ giữ nguyên như ngày trước.

Bông sau khi thu hoạch được đem phơi khô, rồi tiếp đến là một loạt công đoạn từ chọn những quả bông tốt, tách hạt, đến việc làm cho bông xốp tơi, kéo thành sợi và quay xa để xe sợi bông. Sợi bông sẽ được quấn vào thanh tre tròn, dài, nhỏ làm lõi tạo thành từng cuộn, sau đó quấn sợi thành từng lọn dài cho dễ nhuộm.

“Ngày trước trồng bông dệt vải mất nhiều thời gian nên quanh năm chỉ được vài tấm thổ cẩm để dùng. Bây giờ không trồng bông nữa, đi mua sợi về dệt nhanh hơn. Cứ hai tuần một lần tôi lại ra Lạc Dương bán thổ cẩm rồi đi xuống tận Bảo Lộc mua sợi trắng về nhuộm màu. Phải là màu nhuộm từ cây rừng thì thổ cẩm của người Cil mới đẹp, mới lâu bạc màu khi đi nắng đi mưa”, bà K’Glòng cho biết.

Thấm đẫm hương rừng

Tuy qua nhiều biến chuyển của cuộc sống, chị em nhà bà K’Glòng vẫn giữ trên thổ cẩm của mình những nét còn đặc trưng mà họ gọi là giữ sự “đậm đà của hương rừng”. Bởi họ không mua sợi màu để dệt. Không đủ sức để đi rừng như trước nữa, ba bà bảo con cháu mang cây rừng về, trồng quanh rẫy cà phê, quanh vườn nhà, để giã lấy màu ủ cho sợi.

Bàn tay của những người đàn bà này hàng chục năm nay không lúc nào thôi dính màu. Sợi trắng sau khi mua về được luộc, phơi nắng rồi đem nhuộm màu. Trong vườn nhà bà K’Glòng có cái chòi nhỏ, ở đó có nhiều bình gốm, có bình đang ủ lá, có bình đang ngâm vải, bình màu đen, bình màu xanh, màu đỏ… Tất cả những màu đó đều được ủ từ củ, quả, lá cây rừng như củ nghệ, hạt quả cari còn gọi là quả nho, vỏ và thân cây lốt, lá cây drửm…

Màu truyền thống trên thổ cẩm của người Cil gồm có sáu màu: đỏ (nờ đum), xanh đen (ui sa phù), vàng (rơ mết), nâu (bờ rồng), cam (pơ rơ hê), xanh dương (rơ nõ cờ nhó). Để có màu đúng ý phải trộn lẫn nhiều loại lá, vỏ, củ của nhiều loại cây với nhau. Như muốn tạo màu cam, dùng hạt cây cari với củ nghệ và lá cây vông; để có màu nâu, người ta lấy củ nâu giã, ép lấy nước cốt, sau đó cho sợi vào nhuộm một lần, đem phơi khô; đặc biệt là tạo màu xanh đen, màu nền chủ đạo trên vải thổ cẩm, người thợ phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.

Thay vì mua sợi ở chợ Đà Lạt dệt ba ngày là xong một tấm thổ cẩm, ba chị em nhà bà K’Glòng vẫn cần mẫn nhuộm sợi để dệt. “Màu từ cây rừng bền lắm, đi nắng đi mưa nhiều cũng chẳng phai đâu. Mình nhuộm màu cực hơn một tí, mất thời gian nhiều hơn nhưng bán được một triệu ba (1,3 triệu đồng) một tấm, còn người ta chỉ bán được 500.000 (đồng) thôi”, bà K’Măng cho biết.

Bà Đoàn Bích Ngọ, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, người trực tiếp tham gia các dự án phục dựng nghề dệt ở Đưng K’Nớ, nói rằng trên thổ cẩm của người Cil, người ta có thể thấy cả bức tranh của cuộc sống. Đó chủ yếu là các loại hoa văn hình kỷ hà, hình người, hình các loài muông thú và các vật dụng quen thuộc, gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của họ như cầu thang nhà sàn, xà gạc, mũi chông, cổ nỏ, bụng con tắc kè, lá mây, đuôi bọ cạp, cổ chim bồ câu…

Khi dệt, những người phụ nữ ngồi duỗi thẳng chân trên sàn. Hai chân đạp và giữ chặt một thanh chủ của khung dệt và một thanh chủ khác được dùng dây móc vào lưng người dệt để cố định và kéo căng khung sợi. Các thanh khác tùy theo chức năng của chúng mà luồn rất khéo vào giữa giàn sợi. Họ vừa dệt vừa tạo hoa văn trên tấm vải.

Có lẽ vì cái “hương rừng”, cái màu tự nhiên thấm đẫm ấy mà bao năm nay người dân Đưng K’Nớ vẫn công nhận chị em nhà bà K’Glòng là những người dệt đẹp nhất. Người khắp nơi vẫn tới đây đặt thổ cẩm, nhất là để chuẩn bị cho các đám cưới. Mấy chục năm cần mẫn nhuộm màu, dệt vải đến bây giờ các bà “nhắm mắt cũng nhuộm được màu”, và trên lưng hằn lên vết chai của những tháng ngày căng khung dệt vải. Ngoài các sản phẩm dệt truyền thống như những tấm đắp, váy, tấm choàng để địu con, ngày nay họ còn dệt thêm một số sản phẩm mới như băng cầu nguyện dùng trong các nghi lễ tôn giáo, các loại túi, ví xách tay bằng thổ cẩm…

Những chiếc lá cuối cùng

Dệt vải là nghề thủ công truyền thống có từ lâu đời của người dân nơi đây, đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của bà con. Nghề dệt không những cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, góp phần nâng cao nguồn thu nhập gia đình mà còn giúp họ thể hiện và bảo tồn được bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc mình. Theo bà Đoàn Bích Ngọ, thông qua tấm vải dệt, người phụ nữ đã gửi gắm tâm hồn, tình cảm cũng như sự cảm nhận về thế giới tự nhiên, con người qua những hoa văn sinh động. Đó là những vật dụng gần gũi, gắn bó trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, được thể hiện rất tự nhiên, sinh động theo cảm nhận riêng của họ.

Hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, cùng với sự giao lưu kinh tế – văn hóa với các dân tộc vùng phụ cận, nghề dệt của người Cil đang dần bị thu hẹp và mai một. Tuy nhiên trong tâm thức người Cil đó vẫn là nét đẹp của dân tộc mình. Còn với những người muốn tìm hiểu về văn hóa khi đến Đưng K’Nớ, họ coi sản phẩm thổ cẩm của ngưới Cil là món quà lưu niệm ưa thích. Cứ thế, ba chị em nhà bà K’Glòng vẫn ngày ngày chăm chỉ nhuộm màu vải, đôi tay vẫn chẳng lúc nào sạch màu, vẫn chú tâm truyền nghề cho các cô con gái.

Người dân Đưng K’Nớ từ nhiều năm về trước đã trải qua nhiều cuộc di dân tự nhiên lẫn cơ học, nhưng cuối cùng họ vẫn quần tụ về đây để được bao bọc bởi rừng, bởi văn hóa. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi sự xoay vần của tạo hóa, rừng cũng không đủ sức ngăn cản sự đổi thay của cuộc sống. Và rồi những con người ấy như những chiếc lá cuối cùng trên cây thường xuân, níu giữ những gì là vốn có của người Cil xưa trên mảnh đất này.