Con đường hạt muối

0
843

Hàng ngàn năm trước, có một con đường mòn xuyên rừng mà người miền rừng gùi sản vật xuống miền biển để cõng về những gùi muối đầy. Con đường giao thương ấy đã trở thành con đường tình của nhiều chàng trai cô gái hai dân tộc K’ho và Raglai. Và nay, với nhiều người yêu khám phá, con đường đó trở thành tour du lịch độc đáo.

Từ rừng xanh xuống biển bạc

Chúng tôi tham gia hành trình cùng một nhóm bạn trẻ. Họ đến từ thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Lạt. Nhóm gồm 12 người xuất phát từ thôn Klong Klanh, xã Đa Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đi theo con đường mòn xuyên rừng đến thôn Bố Lang, xã Phước Bình, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Ai nấy nai nịt gọn gàng, chuẩn bị lều bạt, túi ngủ, gạo, thịt, trà, cà phê, đường… Ngoài đồ dùng cá nhân, mọi người đều có trách nhiệm tải hành lý của đoàn trong ba lô trên lưng: nữ mang 10kg, nam dao động từ 20kg – 30kg tùy sức khỏe.

Từ rẫy cà phê, điều, chúng tôi lội bùn, vượt suối tiến dần vào rừng rậm. Hết những đồi cỏ đẹp như tranh là những đoạn bị cây rừng quật vào chân đau điếng. Qua rừng thông, lớp lá rụng dày trên những con dốc đã làm những đôi chân liên tục trơn trượt. Dốc nối dốc, cua ngoặt liên tục mà gót người đi trước chạm mũi chân người đi sau. Chân bước đi mỗi bước cao dần theo triền dốc, có lúc lên đến 60 độ. Đường trơn, chúng tôi nhích từng bước, tay víu vào cây cỏ tiến về phía trước. Càng đi chân càng sưng lên. Vắt đen búng từ thảm lá mục dưới đất lên bám vào giày, luồn vào chân hút máu. Vai ai cũng mỏi nhừ, miệng khô dần vì khát nước. Uống hết chai nước lọc mang theo, mọi người chặt cây dây leo, tước búp cỏ nhấm cho đỡ khát. Trong hành trình này có những bạn đã từng leo lên đến đỉnh Fansipan, chinh phục đỉnh Bạch Mộc Lương Tử hùng vĩ ở Tây Bắc nhưng tất cả họ đều không giấu nổi sự hào hứng chứng kiến nét đẹp đến nao lòng của rừng núi nơi đây với nhiều loại cây hàng trăm năm tuổi như chò, chò chỉ, sấu… Đặc biệt là cây pơmu nghìn năm tuổi.

Khi chúng tôi tới điểm cắm trại đã là xế chiều, sương mù che khuất hết tầm nhìn. Người nhặt những cành cây ngã đổ về nhóm lửa, người dựng lều, người chuẩn bị thức ăn… Trên đỉnh núi, màn đêm buông xuống lạnh buốt. Bên đống lửa bập bùng, chúng tôi quây quần ngồi thưởng thức bữa tối. Ngay từ miếng gà nướng đầu tiên, mọi người đều kêu nhạt. K’Vâng, người dẫn đoàn, cười bảo: “Chúng ta đang sống lại thời xa xưa của người K’ho, không có muối nên phải luồn rừng đi tìm.” Rồi anh hướng dẫn mọi người lấy tro để chấm thịt. Nhiều người ồ lên bảo, tưởng chuyện ăn tro cỏ tranh thay muối chỉ có trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc!

Sáng hôm sau, khoảnh khắc đứng trên đỉnh núi uống ly cà phê nóng ngắm ánh bình minh hồng nhè nhẹ trên nền mây trắng, cây xanh đủ để cho những trái tim trẻ thấy “yêu rừng, yêu thiên nhiên, yêu những tháng ngày tuổi trẻ thích khám phá đến tha thiết,” chị Nguyễn Lệ Quyên – bác sĩ trẻ đến từ thành phố Hồ Chí Minh – chia sẻ. Mặc cho trên lưng những chàng trai hằn đỏ vết quai ba lô; trên bàn tay những cô gái chẳng mấy khi mang nhiều xách nặng nổi chai sần ở ngón áp út vì cầm gậy quá chặt để leo lên và tụt xuống bao con dốc… nhưng ai cũng hăm hở tiếp tục lên đường.

Đứng trên đỉnh núi ngắm cảnh bình minh thật thi vị. Ảnh: Ngà Yên

Tối đó, chúng tôi cắm trại ăn uống, nghỉ qua đêm trong sân của người Raglai ở thôn Bố Lang. Đêm ấy thật vui vì bữa ăn có muối: muối giã với tiêu, sả, hành tây, ớt làm nước chấm; gà nổ muối hột; muối hầm trong om đất cho nở bung ra, mịn màng, tinh khiết như bông; muối hòa nước ấm ngâm chân tay cho hết nhức mỏi… Mới thiếu muối một ngày ở trong rừng mà ai nấy ăn uống đã uể oải, nhạt nhẽo. Thế mới thấm thía cái câu “Thương nhau hạt muối cắn đôi”, mới hay muối được mệnh danh là “gia vị của mọi gia vị.” Thế nên cảm giác được thẩm thấu niềm hân hoan khi tìm đổi được muối của người K’ho xưa, thật khó tả!

Hạ trại nướng thịt, nấu ăn và ngủ đêm trên đỉnh núi. Ảnh: Ngà Yên

Người Raglai không làm được muối, họ đổi của người Chăm mang từ miền biển lên. Thế nên sáng hôm sau chúng tôi lên xe xuôi ra biển, tìm về đầu nguồn hạt muối. Vượt 25km, đoàn lạc vào giữa qua những cánh đồng muối trắng lóa dưới ánh nắng mặt trời ở xã Phước Diêm, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Thuận Nam có 36 km bờ biển, khí hậu nắng quanh năm nên nghề làm muối là nghề truyền thống có từ hàng trăm năm nay của người Chăm, người Kinh ở đây. Dấu tích của nghề đã hằn vào địa danh Phước Diêm (có phước nhờ muối), Thương Diêm (buôn muối)… Hằng năm, diêm dân ở Ninh Thuận bước vào vụ sản xuất muối nền đất từ tháng 12 năm trước đến hết tháng 8 của năm sau. Năm nào nắng hạn kéo dài thì kết thúc niên vụ vào tháng 9.

Chúng tôi đến nhằm đúng buổi trưa nắng như đổ lửa. Đúng là một vùng đặc trưng của nghề muối: khắp đường đi lối lại đều phủ màu trắng xóa và nhớp nháp nước muối. Gió lồng lộng thổi về từ phía biển nhưng thay vì mang theo sự mát mẻ, lại hầm người ta nóng ran thêm bởi hơi muối mặn mòi làm da dẻ khô rát. Trên cánh đồng bát ngát với hai màu đặc trưng nâu (của cát) và trắng (của muối) là hàng trăm diêm dân đang đánh vật với trời: người hì hụi chở, tãi cát trên sân phơi; kẻ miệt mài cào, xúc những hạt muối trắng xóa. Mồ hôi tắm ướt sũng những bộ quần áo bạc màu và ròng ròng tuôn trên những khuôn mặt sạm đen vì nắng gió.

Bà Trần Thị Tân, dừng tay cào muối cho biết: Diêm dân phải ra đồng từ lúc 5 giờ sáng để làm ruộng, đầm đất, té cát rồi đợi khoảng 8 giờ đến 9 giờ sáng dẫn nước vào ruộng. Sau đó, ngày nào cũng phải liên tục dùng trang đẩy nước để ruộng không bị khô, nếu không hạt muối sẽ đen. Đến ngày thứ ba, khi muối kết tinh đủ, mới bắt đầu cào thu hoạch. Với những nghề khác, người ta làm khi trời râm mát thì với diêm dân, những lúc nắng to nhất là lúc phải ra ruộng làm muối.

Nhưng làm muối là nghề tổ, là kế sinh nhai nên bao đời nay, người dân nơi đây vẫn “Đời ông cho chí đời cha/ Có một xe cát, xe ra, xe vào.” Theo nghiên cứu từ phương pháp sản xuất muối truyền thống, hàng ngày, mỗi diêm dân phải làm việc quần quật từ 10 giờ đến 12 giờ ngoài trời trong điều kiện nắng nóng nhất; phải vận chuyển trung bình bốn tấn cát và nước. Cắn hạt muối mặn thấy thấm cả vị mồ hôi của diêm dân.

Rời Phước Diêm, chúng tôi sang xã Cà Ná để tìm lại dấu tích của sở muối năm xưa. Sở muối Cà Ná được ông Barbarin, nhà mại bản người Pháp, vẽ bản thiết kế và xây dựng vào năm 1927. Ông đã đến mảnh đất này rất nhiều năm trước để nghiên cứu kỹ càng rồi mới quyết định. Theo ghi chép của ông, cuối thế kỷ 19, Cà Ná vẫn còn là vùng đất hoang vu, những cánh rừng chà là chạy từ núi cao ra sát mép biển, thú dữ đông hơn dân làng. Ông đã phải thuê hàng ngàn nhân công từ nhiều nơi đến để bạt rừng, phá núi, chở nước ngọt từ nơi khác đến, với quyết tâm xây dựng sở muối đầu tiên ở phần nam Trung kỳ vì đây là vùng có nước biển mặn nhất xứ An Nam.

Với hơn 105 km bờ biển cộng với thời tiết gần như nắng nóng quanh năm, hiện nay Ninh Thuận là một trong những vựa muối lớn nhất nước, với tổng diện tích là 3.914,6 ha, sản lượng hằng năm đạt 431.700 tấn, tạo việc làm cho khoảng 8.000 lao động. Giá muối sản xuất trên nền bạt hiện ở mức 1.300 đồng/kg, muối sản xuất trên nền đất 1.100 đồng/kg.

Muối kết tình

Ninh Thuận là đất bản địa của người Chăm, người Raglai. Người Chăm ở biển, người Raglai ở núi. Người Kinh từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên di cư vào từ đầu thế kỷ 19 để đánh bắt hải sản, làm muối… Người Chăm, vốn có truyền thống đi buôn, họ có cả một trường ca Đi buôn. Ông Inrasara, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, tự hào đúc kết rằng: Chăm là dân tộc máu phiêu lưu; Chăm biết làm kinh tế thị trường rất sớm. Người Chăm đi đến đâu buôn bán ở đó. Buôn bán, không chỉ thuần giải quyết sinh nhai, mà ở tận sâu thẳm họ – thỏa mãn nhu cầu phiêu lưu ẩn tàng trong máu. Hàng hóa được buôn nhiều nhất là thổ cẩm Chăm của làng Mỹ Nghiệp nổi tiếng. “Dân Chakleng đội ciet thổ cẩm lên đất Tây Nguyên đi Churu, xưa gọi là đi buôn Thượng. Đó là những năm 50 của thế kỷ 19, đường sá hiểm trở với phương tiện giao thông thô sơ, các chú các bác đã phải trèo đèo lội suối, vào các buôn palei (làng) xa xôi và lạ lẫm nhất để bán. Trong những chuyến đi ấy, không ít người đã hi sinh vì sự nghiệp phiêu lưu của mình: Nau ikak nau kaiy mưtai yer laiy tuh thraiy ka gơp (Đi bán đi buôn, chết thẳng cẳng đổ nợ cho họ hàng),” ông Inrasara cho biết.

Sau thổ cẩm là cá khô, thuốc nam, muối… Ông Bon Tô Sa Nga, 60 tuổi, người Raglai sống tại thôn Bố Lang, xã Phước Bình, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận kể rằng người Chăm ở biển mang muối lên đổi cho người Raglai. Người Raglai trữ muối vào các gùi, vò gác lên gác bếp hoặc đặt quanh bếp để ăn quanh năm.

Phía rừng bên kia là Lạc Dương thì “người K’ho ngày xưa không có muối, phải ăn tro, tro là muối,” ông Bonnieng Ha Sào, 59 tuổi ở bon Ja, xã Đưng Knớh, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng hồi tưởng.

Trong câu chuyện truyền miệng của người K’ho ở vùng Đa Nhim, Đa Chais của huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng hôm nay người ta vẫn nhớ như in những tháng ngày gùi đồ rừng xuống miền biển đổi muối.

Ông Cil Du Ha Vương, 70 tuổi, ở thôn Đưng K’si, xã Đa Chais, khoát tay ra bốn phía, nói: “Trước đây đâu cũng thấy rừng, người ta cứ luồn rừng mà đi xuống Ninh Thuận thôi. Người dân thôn Đưng K’si và các thôn lân cận thường đi đổi muối theo đường rừng qua thôn Bố Lang.” Nếu miền xuôi quý nhất là vàng, thì người miền núi quý nhất là muối. “Muối là vật thiêng liêng nên trong các lễ hội, các dịp cúng bái bao giờ cũng có muối. Ngày trước, muối được dành cho những người ốm hay để làm món quà quý giá tặng nhau,” ông Vương nói.

Vào mùa khô, những người đàn ông khỏe mạnh trong gia đình lại rủ nhau gùi những sản phẩm đặc trưng của núi rừng đi đổi muối. Sơ Két Sa Lem, 30 tuổi, ở thôn Klong Klanh, xã Đa Chais, hiện là thành viên đội du lịch cộng đồng của Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà vẫn nhớ như in những ký ức tuổi thơ ngày ông ngoại Cil Ha Han cùng những người đàn ông khác trong thôn luồn rừng đi đổi muối. “Cứ lâu lâu ông ngoại và nhiều người trong thôn lại gùi rễ cau, đót, dây mây (từng bó sáu sợi, tám sợi)… đi xa nhiều ngày. Sau này mình mới biết là họ đi đổi muối,” Sa Lem nhớ lại. Về hành trình, ông Bonnieng Ha Sào kể: “Ngày ấy rừng thiêng nước độc, bà con đi đổi muối từ sáng tinh mơ đến 3 giờ chiều phải dừng lại làm chòi ngủ trên cây để tránh cọp. Luồn rừng ngày này qua ngày khác có khi cả tuần mới mang được 10kg đến 15kg muối về nhà. Mỗi lần những người đàn ông trong gia đình xuôi về miền biển là những ngày mẹ, vợ ở nhà ngóng trông lo sợ đến mỏi mắt vì lành ít dữ nhiều.” Thật đúng là “Hạt muối năm xưa từng trông chờ đỏ mắt/ Anh gùi muối về trong cái chết cận kề.” (Tình ca Tây Nguyên, nhạc sĩ Hoàng Vân)

Ông Bonnieng Ha Sào hồi tưởng: “Sau này biết đến hạt muối, tôi từng theo cha đi đổi cả một con heo để lấy một hũ muối dùng trong một năm. Người K’ho Srê có câu “Mẹ boh mẹ bla” nghĩa là “Mẹ muối, mẹ ngà voi”, ngà voi và muối là hai tài sản quý giá nhất đối với ông bà ngày ấy…”

Trải qua bao năm tháng, người miền núi – miền biển thông qua việc trao đổi hạt muối đã hình thành nên sự kết nối cộng đồng tộc người giữa hai vùng khác nhau. Họ chia sẻ cho nhau những thứ mình thiếu, mình cần mà không làm ra được. Con đường hạt muối đã đưa họ gần lại, gắn kết với nhau như ruột thịt. Và những câu chuyện tình đơm hoa kết trái mặn mà là minh chứng sống động cho điều đó.

Câu chuyện tình của ông Bon Tô Sa Nga người Raglai và vợ là người Cil hình thành từ con đường hạt muối. Ngày ấy, ông Sa Nga sống tại thôn Bố Lang. Ông gặp và quen nhiều người từ Đa Chais xuống đổi muối. Đó cũng là sợ dây kết nối để ông gặp được người con gái Ka Să Kpram. “Hồi đó mình cũng theo những người đi đổi muối đi lên trên này chơi. Gặp được vợ mình bây giờ nên mình đi lên đi xuống nhiều lắm. Đi miết rồi cũng thấy quen, không còn thấy xa nữa,” ông Sa Nga cười nói. Từ ngày đầu theo chân đoàn người đi đổi muối sau này câu chuyện tình yêu của ông Sa Nga đã nảy nở, đơm hoa kết trái. Theo phong tục mẫu hệ, ông Sa Nga lên ở rể nhà bà Kpram. Ông trở thành người con của vùng đất Nam Tây Nguyên từ đó. Nhà ông Sa Nga có hai anh em trai. Hai anh em hiện đang có cuộc sống vui vầy bên gia đình riêng ở hai đầu con đường hạt muối.

Chuyện của chị Ksă Ka Giêng cũng vậy. Chị Ka Giêng gặp và yêu người đàn ông của cuộc đời mình khi anh là thành viên trong đoàn người từ miền rừng xuống xuôi đổi muối. Họ đến với nhau, vẫn giữ phong tục mẫu hệ Ka Giêng bắt chồng về ở rể. Nhưng đất đai khí hậu ở vùng Đa Chais tốt lành hơn nên vợ chồng chị quyết định lên sinh sống ở thôn Đưng K’Si nhiều năm nay.

Ở dưới vùng Phước Bình hiện nay có không ít chàng rể người K’ho đang sinh sống ở đó. Đó cũng là trái ngọt sau những chuyện tình từ những lần đi đổi muối.

Và cho đến hôm nay, những chàng trai trẻ như Sa Lem, Kon Să Ha Ret… vẫn tìm đến những cô gái Raglai ở Ninh Thuận. Có lúc họ đi bằng xe máy, cũng có khi họ đi đường rừng. Con đường hạt muối vẫn tiếp tục kết tình người.

Con đường trekking

Con đường hạt muối năm xưa nay nối liền hai vườn quốc gia: Bidoup – Núi Bà và Phước Bình. Đó không chỉ là con đường kết nối những người công tác ở hai nơi này, con đường mòn mà bà con vẫn thường đi tìm nấm mà còn thu hút rất nhiều bạn trẻ đam mê loại hình du lịch trekking (đi bộ trong rừng).

Anh K’Vâng – hướng dẫn viên du lịch kỳ cựu ở khu vực này – cho biết: “Cùng với Tà Năng – Phan Dũng thì đây đang là cung đường được nhiều bạn trẻ đặt tour nhất ở khu vực này. Tuyến đường dài 30km, kéo dài trong 3 ngày 2 đêm trải qua nhiều loại địa hình gồm rừng rậm, rừng thông, rừng thưa, đồi cỏ… Đường đi khá nhiều dốc và hiểm trở đòi hỏi các bạn phải có đam mê, sức khỏe, đặc biệt là tính tự lập và tinh thần đồng đội.”

Đường đi vượt qua rất nhiều địa hình phức tạp, khó khăn. Ảnh: Ngà Yên

Mọi chuyện bắt đầu từ hai năm trước, Vườn quốc gia Phước Bình tiến hành chuyến đi khảo sát, mở cung đường trekking từ Klong Klanh – Bố Lang, đi qua hai vườn (vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng và vườn quốc gia Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận) nhằm thúc đẩy du lịch sinh thái, họ mời đại diện vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà tham gia, trong đó có anh K’Vâng. Kết thúc chuyến đi, hai vườn thiết kế tour, chào bán nhưng mọi chuyện rơi vào im lặng. Anh K’Vâng kể: “Sau chuyến đi đó, tôi tạm gọi tên cung đường là cung đường hữu nghị hai vườn quốc gia. Mãi giữa năm nay, tôi quyết định đưa yếu tố văn hóa vào và đổi tên là con đường hạt muối rồi chào bán trên facebook cá nhân thì có nhóm tám bạn đăng ký. Họ đều là những khách đã từng đi trek trong vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà với tôi trước đó. Tính ra, tour này chào bán suốt hai năm trời mới có người mua.” Nhưng rất may là chưa kết thúc chuyến đi, đoàn còn đang ở Phan Rang thì có nhóm hai đăng ký trước một tháng. Lúc đầu có 16 người đăng ký, nhưng do bận công việc nên cuối cùng chỉ còn 12 người khởi hành.

K’Vâng (phải), tác giả tour con đường hạt muối, trong một lần điền dã nghiên cứu văn hóa của người K’ho. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng
Ống đựng muối đâm là vật dụng không thể thiếu trong bếp của người K’ho. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng
Chiếc gùi của người K’ho. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Thời gian tới, anh K’Vâng phối hợp với Trekker.vn, Vietnam And You đẩy mạnh phát triển tour “Con đường hạt muối.” Hành trình tùy theo yêu cầu của khách: ngắn nhất thì đi 30 km từ Klong Klanh – Bố Lang (theo dấu chân người K’ho năm xưa từ Lạc Dương sang làng của người Raglai ở Bác Ái đổi muối), mất ba ngày hai đêm; dài thì đi 120 km tiến về tận đầu nguồn hạt muối để trải nghiệm làm muối, trải nghiệm văn hóa Kinh, Chăm ở tận huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, mất năm ngày bốn đêm. Giá trung bình là 1 triệu đồng/người/ngày.

Đây là hành trình lên rừng xuống biển (từ nơi cao trung bình 1,700 mét so với mực nước biển xuống vẫy vùng trong làn nước trong xanh của biển) để trải nghiệm văn hóa K’ho, Raglai, Chăm, Kinh – chủ nhân của hai đầu con đường hạt muối – với rất nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được tích hợp.

Con đường hạt muối năm xưa đã kết tình cho những người con hai dân tộc, hai vùng miền. Con đường ấy hôm nay lại tiếp tục gắn kết cho những con người ở nhiều địa phương, nhiều lứa tuổi, nhiều ngành nghề khác nhau. Và tình mặn mà như vị muối.

  • Nồng độ muối trong cơ thể một người khỏe mạnh dao động trong một khoảng rất nhỏ. Lượng muối mất đi phải được bù đắp; lượng muối thừa phải được bài tiết ra khỏi cơ thể. Sự mất muối gây ra các vấn đề như sụt cân, chán ăn, chuột rút, buồn nôn, ù lì, và trong những trường hợp cơ thể mất quá nhiều muối – như ở những vận động viên marathon – có thể gây ra suy mạch và dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, việc hấp thụ quá nhiều ion Na+ có thể gây ra chứng cao huyết áp, một yếu tố quan trọng dẫn đến các bệnh tim mạch và rối loạn chức năng thận và gan.
    Trong cơ thể một người bình thường có khoảng 113 gram muối; chúng ta thường xuyên bị mất muối, do đổ mồ hôi và bài tiết qua nước tiểu, và do đó chúng ta phải bù đắp lượng muối mất đi hằng ngày. Những người tiền sử đảm bảo lượng muối cần thiết trong chế độ ăn bằng thịt của những động vật ăn cỏ mà họ săn được, thịt tươi là nguồn cung cấp muối tuyệt vời.
    (Penny Le Couteur, Jay Burreson, Napoleon’s buttons: 17 molecules that changed history, Penguin Group, USA, 2003. Chiếc nút áo của Napoleon: 17 phân tử thay đổi lịch sử, Nguyễn Vĩnh Khanh dịch, Nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2017, trang 394.)

 

  • Từ những câu chuyện cổ tích cho đến các câu chuyện ngụ ngôn trong Kinh Thánh, từ thần thoại dân gian Thụy Điển cho đến những truyền thuyết của thổ dân Bắc Mỹ, các nền văn minh khác nhau trên toàn thế giới đã kể những câu chuyện về muối ăn. Muối ăn được sử dụng trong những lễ hội và nghi lễ, nó tượng trưng cho sự hiếu khách và may mắn, nó bảo vệ con người khỏi linh hồn ma quỷ và bất hạnh. Tầm quan trọng của muối ăn trong việc định hình văn hóa nhân loại có thể được tìm thấy trong ngôn ngữ. Chúng ta làm việc để được trả lương (salary) – bắt nguồn từ việc những người lính La Mã thường được trả lương bằng muối ăn. Những từ như salad (được nêm chỉ với muối), sauce (xốt), sausage (xúc xích) và salami (xúc xích salami) đều có nguồn gốc từ một từ Latin duy nhất. Cũng tương tự trong các ngôn ngữ khác, các phép ẩn dụ về muối ăn cũng hay được sử dụng trong ngôn ngữ hằng ngày ở Mỹ: muối men cho đời (salt of the earth), thủy thủ lão luyện (old salt), xứng đáng với những gì kiếm được (worth his salt), ít được coi trọng (below the salt), nhìn vấn đề với sự hoài nghi (with a grain of salt), quay về lối cũ (back to the salt mine).
    Điều trớ trêu trong câu chuyện về muối là mặc cho tất cả những cuộc chiến xoay quanh muối, mặc cho tất cả những tranh chấp và những phản đối về các khoản thuế và lệ phí đánh lên muối, bất chấp những cuộc di dân tìm kiếm muối ăn và những khốn khó hàng trăm ngàn người đã phải trải qua trong tù vì buôn lậu muối, đến khi con người phát hiện ra những mỏ muối ngầm khổng lồ và phát triển những kĩ thuật hiện đại để giảm đáng kể giá thành của muối ăn, thì nhu cầu dùng muối ăn làm chất bảo quản thực phẩm cũng đã gần như biến mất – chất bảo quản lạnh đã trở thành phương pháp tiêu chuẩn để ngăn chặn sự phân hủy của thức ăn. Trong suốt lịch sử, hợp chất đã từng được vinh danh và trân quý, mong muốn và giành giật, và đôi lúc có giá trị hơn cả vàng, ngày nay không chỉ rất rẻ và sẵn có, mà còn bị xem là quá đỗi bình thường.
    (Sđd, trang 403-404.)

Theo Tuổi Trẻ cuối tuần, số 7-2018, ra ngày 4.3.2018