Đi tìm đặc sản Trà Vân

0
438
Bà Nguyễn Thị Ngọ, 71 tuổi, làm trà Vân từ năm 1963 đến nay. Hiện bà có 500 mét vuông trà xen dứa

Trên núi Vân có trồng một loại trà ngon. Trà này được chế biến sao tẩm theo một kỹ thuật riêng có tại địa phương. Trà nước đỏ và ngọt, loại đặc sản này được người dân gọi tên là trà Vân.

10 năm đi tìm trà Vân 

Cuối năm 2002, tình cờ được thưởng thức chén trà ngát hương đượm vị ở nhà Phó Giáo sư – Tiến sĩ khảo cổ học Đỗ Văn Ninh, tôi được biết về một loại trà đặc biệt của Việt Nam: trà Vân. Đó là năm 1967, khi đi khai quật khảo cổ qua gần 400 hòn đảo ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, ông được nếm một loại trà ngon, nước đỏ và ngọt. Ông chỉ vẽ: “Làng Vân là tên cổ của thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Thôn ở phía đông quả núi Vân, bao quanh vụng Cống Cái, đỉnh cao nhất đảo này. Trên núi Vân có trồng một loại trà ngon. Trà này được chế biến sao tẩm theo một kỹ thuật riêng có tại địa phương. Trà nước đỏ và ngọt, nhân dân vùng này rất ưa thích, đặt cho cái tên trà Vân. Về sau, nơi trồng và sao loại trà này nhiều hơn là thôn Trà Bản trên đảo Cái Bàn, nhưng sản phẩm vẫn giữ tên trà Vân”. Ra về sau buổi chiều ấy, tôi hứa với lòng sẽ đi tìm trà Vân về biếu ông. Ấy thế mà, cứ lần khân mãi đến vừa rồi tôi mới ra Vân Đồn được.

Đến thị trấn Cái Rồng lúc mặt trời xế bóng, hỏi tàu ra xã Quan Lạn thì người ta bảo mỗi ngày chỉ có một chuyến tàu khách đi lúc 7 giờ, về lúc 13 giờ. Trong thời gian chờ tàu, tôi lang thang quanh thị trấn. Sà vào các quán nước bên đường thì chỉ được uống thứ trà xanh bình thường, đến những cửa hàng đặc sản địa phương cũng chả thấy bóng dáng thứ trà nước đỏ và ngọt đâu cả. Tối về hỏi thăm bà chủ nhà nghỉ đã ngót 60 tuổi thì nghe một câu phũ phàng: “Chỉ biết ở xã Bản Sen người ta có làm trà, trà Vân thì tôi chưa nghe nói bao giờ”. Thoáng lạnh sống lưng nhưng tôi nhủ thầm cứ ra làng Vân đi, dù sau đó chỉ để nói rằng làng Vân đã sạch bóng trà Vân.

Lênh đênh trên biển suốt ba giờ tàu mới cập bến Quan Lạn, ngoắt một cái xe lam để vào thôn Sơn Hào. Bảo chở đến chân núi Vân, anh lái xe bảo không biết núi đấy ở đâu. Thế thì đưa tôi đến giữa thôn vậy. Xe lạng lách nhảy tưng tưng trên một thôi đường ngoằn ngoèo, thấy một ông lão đang chẻ củi bên đường, tôi kêu dừng gấp.

– Bác ơi, cho cháu hỏi núi Vân ở đâu ạ?

– Núi Vân đây rồi – Ông vui vẻ trả lời.

– Thế chỗ nào có cây trà ạ?

– Tít trên đỉnh núi cơ.

– Thế có nhà nào làm trà Vân không ạ?

– Muốn uống trà Vân thì vào nhà tôi.

Nghe ông nói, tôi nở từng khúc ruột.

Ông là Hứa Văn Bảy, 75 tuổi, đến ông là đời thứ tư sinh sống trên đất này. Vừa trò chuyện ông vừa thoăn thoắt đôi tay tráng ấm chén pha trà. Loáng một cái, ông đã đưa cho tôi chén trà nước đỏ quạch như bã trầu. Rồi ông gọi bà nhà lên kể chuyện trà cho khách. Vợ ông, bà Phạm Thị Ba, 74 tuổi, chỉ uống một loại trà đỏ từ năm 18 tuổi đến bây giờ. Xưa nhà ông bà có 2ha trà trồng trên núi Vân để gia đình hái sao uống và bà con dân làng ai thích thì cứ đến mà hái. Sau trồng trà không kinh tế nên gia đình phá dần đi để lấy đất trồng keo, bạch đàn. “Bây giờ còn độ dăm sào, đủ cho tôi hái và sao được mười mấy cân uống quanh năm”, bà Ba cho biết. Ông Bảy tiếp lời: “Ngày xưa ai cũng trồng trà để uống, nay thì đa số phát đi để trồng cây khác. Người ta cũng uống nước vối, trà xanh nhiều nên chỉ còn ít nhà làm trà đỏ”.

Theo chỉ dẫn của ông Bảy, tôi đi sang mé núi bên kia để tìm nhà bà Nguyễn Thị Ngọ, một trong hai người còn làm trà Vân để bán cho bà con trên đảo. Bà Ngọ năm nay 71 tuổi. Năm 1963, bà từ Thái Bình ra làm công nhân khai thác mỏ cát rồi ở lại đảo luôn. Thấy ở các vạt đồi núi trên đảo có cây trà mọc hoang, bà hái về sao để uống. Rồi dần dần bà đi hái quả trà già lấy hạt mang về vườn nhà trồng. Nay thì vườn trà xen dứa của bà đã có 500m2, có cây đã hơn 20 tuổi. Bà giảng giải quy trình làm trà: “Trà hái một tôm hai lá về phơi ngoài nắng cho dàu dàu (sờ thấy dịu tay) thì vò. Xong cho vào túi bóng ủ từ một đến hai tiếng cho phát đỏ lên thì mang vào bếp sao trên chảo gang độ hơn hai tiếng nữa là được. Trà của tôi pha được bốn nước nên dân ở đây thích mua lắm”. Bà bảo nếu trà xanh uống chát, khé cổ, lúc đói uống rất xót ruột thì trà đỏ uống không chát, lại mát. Người già trên đảo không ai uống trà xanh.

Mơ ước một làng nghề

Nghe nói có người từ đất liền ra đảo hỏi chuyện trà đỏ, anh Lý Quốc Chiến, trưởng thôn Sơn Hào, liền đi tìm. Gặp nhau ở vườn trà nhà bà Ngọ, anh kéo tôi lên núi để chỉ cho xem cây trà cổ.

Đứng từ dưới nhìn lên, ngọn núi giống như hình cái oản, dốc lên thì trông như yên ngựa. Thế nên dân gian mới gọi đây là núi Mắp Oản. Leo cả giờ lên đến đỉnh ngọn núi cao chừng gần 300m này, chúng tôi thấy có những cây trà to như cây bưởi, thân mốc thếch, cành lá xum xuê mọc dọc ven suối, khe nước. Lá trà đỏ to, dài, dày và sần sùi hơn lá trà xanh. Anh Chiến bảo ông nội anh là Thang Nhật Trọng (gia tộc anh là người Sán Dìu, vốn họ Thang, đến đời bố anh Chiến mới đổi sang họ Lý) rất đam mê cây trà. Không chỉ lên khu Mắp Oản cũng như các đỉnh núi trên đảo tìm những cây lão trà để hái, mà ông còn trồng trên nương của nhà một sào trà. Nhìn cây trà là ông biết sẽ thu hoạch được bao nhiêu cân trà khô. Ông chỉ hái trà vào tháng giêng, hai (mùa trà xuân). Hái trà về, ông phơi, vò, ủ trong tám giờ rồi mang sao trên bếp củi, chõ sao là gốm Đông Triều (sao bằng chảo gang, nhôm thì chất lượng trà giảm). Trong suốt 3 giờ sao trà ấy, ông có cái ấm và phích nước bên cạnh, được mẻ nào là lấy trà pha vừa để thử, vừa để thưởng thức luôn. “Sáng nào ông cũng dậy sớm pha trà uống. Năm 1980, ông mất lúc 93 tuổi”, anh nhớ lại.

Các bậc cao niên kể lại, xưa kia cây trà mọc hoang trên rừng khắp đảo Vân Đồn. Thời phong kiến, trà Vân không chỉ được làm, tiêu thụ trên đảo mà còn theo tàu vượt biển vào bán tận Quảng Yên. Trà Vân là sản vật được các bậc quan lại, quý tộc, những người nho nhã rất ưa chuộng. Từ lúc lon ton đã được quẩn chân ông nội phơi, vò, sao, uống trà nên anh Chiến cũng được truyền niềm mê đắm trà Vân. Bao năm qua, bất luận người dân phát trà trồng keo, bạch đàn, anh vẫn giữ lại đồi trà gia bảo. Không những thế, anh còn đi khắp vùng tìm những cây trà cổ để ghi dấu, bảo tồn. Anh ước tính toàn huyện Vân Đồn hiện có khoảng 500ha đất thích hợp để trồng trà Vân, tập trung ở các xã Trà Bản và Quan Lạn. “Nếu làm kỳ công theo đúng cách của các cụ ngày xưa, một cân trà Vân sẽ có giá 700.000 đồng. Không chỉ thế, làng nghề truyền thống sản xuất trà Vân còn là một sản phẩm du lịch độc đáo nữa. Tôi đang viết dự án để kêu gọi đầu tư”, anh Chiến cho biết.

Không biết bao giờ ước mơ của anh Chiến mới thành hiện thực để trà Vân đừng hiếm hoi như hiện tại. Bởi tôi muốn mua trà về uống và làm quà, hỏi khắp mấy nhà còn giữ nghề thì chỉ có bà Ngọ vét cho được hai cân mà bà định để dành uống tết. Giá bán cũng chỉ có 120.000 đồng/kg.

Trà Vân nước đỏ và ngọt, xưa kia là sản vật được các bậc quan lại, quý tộc, những người nho nhã rất ưa chuộng
Фильчаков