Dưới bóng lãnh Mỹ A

0
236
Làng lụa Tân Châu (ấp Long Hưng, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang) từ bao đời nay luôn nức tiếng với những tấm lụa lãnh Mỹ A bền đẹp. Bao nhiêu thế hệ người tiêu dùng được tôn lên vẻ đẹp cơ thể nhờ những vuông lụa độc đáo ấy nhưng mấy người quan tâm đến những công đoạn kỳ khu mà người thợ dệt Tân Châu đã đổ mồ hôi sôi nước mắt để có được đặc sản lãnh Mỹ A?

Mạc lắm thắm nhiều

Nhẩn nha tản bước trên những bờ cao ruộng thấp, trên những con đường lắt léo và huyền ảo như chính nụ cười của những thiếu nữ Chăm ở ấp Long Hưng, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, An Giang, tôi miên man tìm những dấu tích của một trung tâm sản xuất vải tơ tằm sầm uất một thuở của vùng Nam Kỳ lục tỉnh.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Long (SN 1920) – Tám Lăng – ngừng tay chỉnh vòng quay tơ của những chiếc máy dệt đang xình xịch xình xịch hối hả se những sợi tơ mịn màng, trắng muốt, dẫn tôi ra bàn nước ngoài vườn rợp bóng cây và khề khà tiếp chuyện. Ông bảo, trước năm 1975, ấp Long Hưng có tới dăm bảy trăm xưởng ươm tơ dệt lụa, cả ngàn con người quay tít theo những vòng khung dệt suốt từ sáng tinh mơ đến tối mịt mỗi ngày mà những vuông lụa tơ tằm bóng mịn gắn mác Tân Châu vẫn không đủ đáp ứng cho nhu cầu may mặc của cả vùng Nam Kỳ lục tỉnh rộng lớn và Sài Gòn đô hội. Vật đổi sao dời, nay thì cả ấp chỉ còn hơn chục hộ gia đình theo nghề tổ, chỉ còn ba xưởng giữ được kỹ nghệ nhuộm vải bằng mạc nưa nhưng chỉ duy nhất gia đình ông nhuộm vải tơ tằm, hai gia đình còn lại thì chỉ nhuộm vải nilon.

Quả mạc nưa được cho vào máy xay nhuyễn thành bột
Mạc nưa là loài cây thân gỗ, lá to bằng ngón chân cái, dài chừng 7-8cm, cây trồng được khoảng 3 năm thì bắt đầu cho quả, quả mạc nưa màu xanh, tùy theo điều kiện đất trồng xấu, tốt, tùy thuộc thời điểm đầu mùa hay cuối mùa mà to bằng từ ngón tay út đến ngón chân cái. Một điều khá đặc biệt là cây mạc nưa chỉ phù hợp với những vùng đất xấu, cằn cỗi; nếu trồng trên mảnh đất tốt, cây sẽ chỉ xum xuê cành lá chứ không hề có quả, ngược lại, đất trồng càng khô cằn thì cây càng cho nhiều quả, quả càng to, nhiều mủ và chất lượng mủ càng tốt. Ở An Giang, cái nôi của cây mạc nưa là huyện Phú Tân. Mùa quả chính vụ của cây mạc nưa bắt đầu từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 12 Âm lịch, sau Tết, mạc nưa còn rất ít quả và chất lượng mủ rất kém. Quả mạc nưa đầu mùa thì cho nhiều mủ, nhuộm vải rất dư, vải dày, bền nhưng mặt vải lại không bóng. Còn quả thu hoạch lúc cuối vụ cho ít mủ, nhuộm vải rất hao nhựa nhưng bù lại, mặt vải lại bóng và đẹp.
Nhúng vải vào thuốc nhuộm là bột mạc nưa được hòa với nước

Quả mạc nưa tươi thu hái về (3.000 đồng/kg) được cho vào máy nghiền thành bột, rây kỹ rồi mang thứ bột ấy hòa với nước và đánh cho thật nhuyễn để cho một thứ mủ đặc quánh. Sau khi nghiền, bột mạc nưa phải được mang hòa nước ngay thì mới bảo đảm chất lượng, bằng không, chỉ để sau vài tiếng đồng hồ ngoài không khí, bột sẽ vữa ngay. Tỷ lệ pha bột mạc nưa với nước, quá trình đánh bột bao nhiêu lâu, là phụ thuộc ở cảm quan nghề nghiệp của từng người chứ tịnh không có bất kỳ một công thức nào.
Quy trình nhuộm vải bằng bột mạc nưa là nhúng tấm vải vào thùng mủ, đảo đều tay một lúc cho vải ăn mủ rồi lấy ra vắt khô, phơi ra ngoài nắng đến bao giờ tấm lụa nóng lên thì lại mang nhúng vào thùng mủ (vải nóng thì nhuộm mới ăn mủ). Chu trình khép kín nhúng-vắt-phơi của miếng vải ấy được thực hiện liên tiếp trong suốt 45 ngày (với điều kiện ngày nào trời cũng nắng) mới cho ra được tấm vải nhuộm mạc nưa thành phẩm. Người trong nghề gọi quá trình nhuộm vải như thế là gia hàng, nghệ nhân Nguyễn Văn Long cho biết một tấm vải nhuộm mạc nưa đúng chuẩn thì phải đạt từ 5-7 gia. Cũng là trong 45 ngày nhuộm nhưng tùy theo bí quyết của từng người mà những lần gia được chia theo khoảng thời gian khác nhau. Với ông, gia đầu là quan trọng nhất và nó kéo dài tới 14 ngày. Xong mỗi gia, tấm vải được nghệ nhân đưa vào cối, lấy chày nện cho nhừ rồi mới mang ra xả nước, phơi khô để chuẩn bị cho một gia mới. Chất lượng mủ mạc nưa quyết định đến quy trình và thời gian nhuộm vải. Cũng bởi trải qua quá nhiều công đoạn cầu kỳ như thế nên tỷ lệ hao hụt mủ mạc nưa trong thời gian nhuộm vải là rất lớn: 20m vải thường uống mất ít là 100kg, nhiều thì phải là 200kg mủ. Kỳ khu là thế nên một tấm vải dài chừng 20m trước khi nhuộm có trọng lượng từ 1-1,1kg thì sau 45 ngày oằn mình trong mủ mạc nưa, dưới tiếng đập bình bịch của chày, căng cứng mình mẩy dưới cái nắng bỏng rát, trọng lượng của nó tăng lên thành từ 2-2,3kg và bề mặt thì trở nên dày, bền và bóng. Việc cuối cùng của quy trình nhuộm vải là lấy bột khoai mỳ (sắn) hòa nhuyễn trong nước, bắc lên bếp nấu chừng 30 phút và liên tục quấy đều tay cho chín, nhuyễn, tỏa mùi thơm phức rồi sau đó lại được đem ra hòa với nước thành dung dịch bột loãng để hồ cho vải cứng mặt.

Chất lượng vải nhuộm bằng mạc nưa rất ưu việt, nhưng do quá trình nhuộm tốn quá nhiều công sức và giá thành của loại đặc sản Tân Châu được gọi là lãnh Mỹ A hay tơ xuyên này rất cao: một tấm lụa tơ tằm giá 32.000 đồng, sau khi được khoác lên mình tấm áo bột mạc nưa thì giá thành cũng đội lên cả chục lần – quá tốn kém so với khi dùng thuốc nhuộm công nghiệp. Dễ hiểu là vì sao dân Tân Châu bàn tay đen (vào mùa nhuộm vải, ngày ngày người dân nơi đây đều đằm tay mình trong thùng bột mạt nưa nên suốt từ khủy tay đến bàn tay của họ đều đen kịt nên người nơi khác mới gọi họ là dân bàn tay đen) nức tiếng thuở trước, nay chỉ còn có 3 gia đình trụ lại với nghề.

Cuộc chơi màu sắc của chàng chủ thầu xây dựng

Sinh ra và lớn lên trong một gia tộc nức tiếng trong làng nghề Tân Châu nên 10 tuổi, Nguyễn Hữu Trí (SN 1973) đã rành rẽ những chiêu thức của nghề dệt vải, nhuộm màu, nhưng cậu út trong gia đình 9 người con này chỉ thực sự đau đáu với nghề tổ bắt đầu từ năm 2003. Từ trước đến nay, người dân Tân Châu chỉ biết dùng mủ mạc nưa để khoác cho những tấm lụa tơ tằm óng ả chiếc áo choàng đen. Liệu các loài cỏ cây khác trong thiên nhiên có còn cho ta được màu khác? Cắc cớ như thế rồi Trí quyết định gác nghề chủ thầu xây dựng sang một bên để dấn thân vào cuộc chơi tìm màu cho vải.

Tìm màu như thể mò kim đáy biển bởi trước Trí, chưa có ai ở trong vùng nghĩ đến chuyện này, bản thân anh thì cũng không được học hành bài bản nên không có một căn cứ nào khi bắt tay vào công việc mới mẻ này. Nhưng ký ức về những chiếc áo lem màu tím của quả mùng tơi, màu vàng ệch của nhựa quả dọc, màu nâu xỉn của nhựa chuối… kết quả của những trò tinh nghịch thuở thiếu thời đã dẫn dắt anh vén bức màn bí ẩn của bà mẹ thiên nhiên. Ngày ngày, với miếng vải trắng trong tay, Trí khăn gói gió đưa đi cả trăm cây số đến những vùng gò cao thung thấp, núi cao rừng thẳm, gặp loài cây cỏ nào cũng vặt lá, cào thân chúng ra để trích nhựa, thấm vào miếng vải mà kiểm nghiệm màu. Trí cũng lân la vào các thôn của đồng bào người Chăm để quan sát, tỉ tê truyện trò với bà con những mong lượm lặt được ít nhiều bí quyết dân gian của họ… Cần mẫn trong suốt chừng 5 tháng trời như thế, cuối cùng, niềm hân hoan như muốn đập tung lồng ngực Trí khi anh đã tìm ra được bảng màu của tự nhiên và bí quyết kết hợp nhựa của những loài cây lá vô tri ấy làm thành thuốc nhuộm đủ 7 màu sắc cho những tấm vải. Có những loài cây, lá chỉ cần lấy về nghiền thành bột là Trí đã có thuốc nhuộm; nhưng cũng có rất nhiều loại, anh phải mang về phơi khô rồi nấu như hãm thuốc bắc mới sử dụng được. Chiết suất từng loại riêng biệt như thế rồi lại hòa trộn vào nhau theo cảm quan nghề nghiệp, Trí mới có được những thùng nước nhuộm vải.

Sáng chế của Nguyễn Hữu Trí ngay lập tức được người tiêu dùng nồng nhiệt đón nhận. Những tấm vải sặc sỡ và bền đẹp nhuộm bằng màu tự nhiên của ông chủ xưởng dệt Tám Lăng (số 28, tổ 2, ấp Long Hưng, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, An Giang) làm ra bao nhiêu được người ta săn lùng hết bấy nhiêu. Đặc biệt, có công ty may mặc lớn như Toàn Thịnh đã thường xuyên đặt hàng anh nhuộm những lô hàng lớn. Suốt trong khoảng thời gian từ đầu năm 2003 đến đầu năm 2007, Trí bải hoải ngụp lặn trong những chồng đơn đặt hàng từ khắp nơi tới tấp bay về. Rạng ngời hạnh phúc vì việc làm có ích và có tính đột phá của mình, nhưng rồi, đầu năm 2007, Trí đột ngột quyết định dẹp hẳn chuyện vải vóc để quay trở về toàn tâm toàn ý cho nghề làm chủ thầu xây dựng. Gặng hỏi mãi, tôi mới được nghe câu trả lời theo kiểu rất hảo hán của Trí: “Đấy là cuộc chơi của tôi mà. Thỏa chí rồi thì nghỉ”…

Nghệ nhân Nguyễn Văn Long kiểm tra chất lượng vải lãnh Mỹ A (còn gọi là tơ xuyên) – đặc sản của vùng lụa Tân Châu: là lụa tơ tằm được nhuộm bằng bột mạc nưa
Nhà có 9 anh em nhưng hiện chỉ còn một người chị của Trí đang ngày ngày cùng cha tiếp tục nghiệp quay tơ dệt lụa và nhuộm vải bằng mạc nưa. Xưởng dệt của nhà Trí còn 12 máy (10 máy dệt vải nilon, 2 máy dệt lụa tơ tằm) chạy xầm xập từ tinh mơ đến tối mịt để cho ra những tấm vải satin, nilon, lụa tơ tằm; cao điểm, số công nhân làm việc cho xưởng nhà anh lên tới hơn 30 người, rất nhiều thành viên trong số ấy là những người thân cận. Nhưng khi tôi hỏi tại sao anh không truyền nghề nhuộm vải màu tự nhiên cho một ai, mắt Trí nhìn xa xăm, giọng đầy ưu tư: “Chỉ mất 2 tháng là đào tạo được một người thợ dệt vải nilon, nhưng để người này biết dệt vải satin, lụa tơ tằm, biết nhuộm vải bằng mạc nưa và bằng màu sắc tự nhiên khác thì chí ít phải kỳ công chỉ dạy trong ít nhất 2 năm trời. Mà rồi đến lúc ấy cũng chưa chắc tôi đã dám cho người ta đứng máy hay tự nhuộm vải. Đơn cử, ngày trước, một tấm lãnh Mỹ A có thể mắc 10 lỗi dệt người ta vẫn mua, nay thì chỉ có 1 lỗi nó cũng lập tức bị từ chối. Vậy thì ai dám mạo hiểm? Mà những nghệ nhân có tay nghề khá ở Tân Châu cũng đều đã ngoài 40 tuổi cả rồi, đào tạo sao kịp…”.
… Chiếc máy dệt đang đều vòng quay, đột nhiên nấc lên, cà rập, cà rập. Lòng tôi cũng nhói lên một nỗi buồn khi liên tưởng đến sự đứt đoạn của truyền thống làng lụa Tân Châu đã hiển hiện ngay trước mắt.

Vân Thủy

лобановский александр интервью