Lại về Đường Lâm

0
350
Những chum tương hàng ngang dãy dọc trên sân là hình ảnh quen thuộc của những ngôi nhà ở Đường Lâm

Trong câu chuyện phiếm bên chén trà khi ngắm mây bay trên nóc tháp Rùa, chúng tôi hồi tưởng về món tương cà gia bản của nông dân đồng bằng Bắc bộ. Để minh họa cho sự biến tấu tài tình của tương, không gì bằng dẫn nhau nhẹ tay ga chạy 47km về làng Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nơi được mệnh danh là bảo tàng của lối sống nông nghiệp – nông thôn Việt Nam.

Về làng ăn tương

Đến Đường Lâm, bước qua cánh cổng nhà nào ta cũng dễ dàng bắt gặp một hình ảnh đặc trưng là những chum tương hàng hàng lớp lớp nằm phơi mình trên những khoảnh sân gạch. Rẽ vào quán cơm quê Hải Lợi ở xóm Hậu, thôn Mông Phụ, đúng lúc ông bà Hải – Lợi đang làm cơm cho hai mâm khách, một hai và một bốn người.

-Thêm hai chúng cháu nữa nhé bác!

-Yên tâm! Chờ một tí là xong ngay!

Hỏi chuyện làm tương, bà Lợi bỏ bếp đi ra sân mở từng chum vừa lấy cái que tre khuấy cho tương dậy mùi, lên màu vừa giảng giải cho chúng tôi về món gia bản.

Tiết trời vào độ chớm thu, tháng tám heo may về là thời điểm chum tương Đường Lâm với những quả cà, củ cải ngâm ngập trong chum đã chín đỏ au, ngấm trọn vẹn những hương vị tinh túy của thứ nước chấm được làm từ những sản phẩm nông nghiệp của làng quê như gạo nếp cái hoa vàng, hạt đậu tương, ngô. Lúc đó, vớt quả cà ra, dùng dao thái từng miếng, thưởng thức với bát cơm gạo trắng ngần, thật không còn gì tuyệt hơn. Không chỉ có cà, củ cải dầm tương, dân làng còn có đặc sản là thịt lợn luộc ngâm tương. Thịt luộc xong, vớt ra để cho nguội rồi thả cả miếng vào ngâm tương trong chừng 15 phút mới vớt ra, thái mỏng, xếp lên đĩa. Thịt lợn khi ngâm vào tương sẽ ngấm vị ngọt ngào, đậm đà rất đặc trưng của nước tương hòa quyện với cái béo ngậy của thịt. Nghe mà ướt hết chân răng!

Tương Đường Lâm được chế biến khá cầu kỳ. Vào cữ tháng sáu, khi cái nắng chói chang của mùa hạ lên đến đỉnh điểm là thời điểm người ta cho gạo vào xay, giã, sàng sảy cho thật sạch sẽ. Sau đó, gạo nếp cái hoa vàng sẽ được ngâm kỹ, đãi sạch và đồ thành xôi. Xôi để nguội mới đem đi ủ mốc cho có màu tựa như màu vàng của hoa cải, là màu chuẩn của mốc. Đỗ tương đem rang vàng thơm, xay cho vỡ hạt rồi sảy cho hết vỏ, bỏ vào nồi nấu kỹ và ngâm trong nước. Để có nước tương ngon, dân làng có bí quyết dùng nước giếng Giang (giếng nước đá ong ở gần nhà thờ thám hoa Giang Văn Minh), bởi nước từ giếng ấy thường trong văn vắt và ngọt lừ. Có nước đỗ ngâm từ đậu tương rồi, người làm tương Đường Lâm sẽ cho dấm mốc vào trong chum, phơi giữa sân dưới nắng tháng sáu cho thật nhuyễn. Đến một thời điểm hợp lý thì hòa nước đỗ vào để có được chum tương hoàn chỉnh. Những chum tương ngang hàng thẳng lối nơi góc sân không chỉ là gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của dân làng (làm nước chấm trực tiếp, dùng kho cá, dầm cà, ngâm thịt…) mà còn góp phần làm nên nét đặc trưng của mỗi ngôi nhà cổ ở cái làng đá ong này.

Xong chuyện mấy chum tương, ngó ra góc sân trước cửa bếp, cô bạn tôi reo lên khi thấy mấy củ su hào đầu mùa non mơn mởn. Cái nết thưởng thức món thời trân, ăn thức đầu mùa, đúng mùa là một cái thú ở đời! Thế nên trên đường đi, tôi mới thắc thỏm thèm đĩa nộm su hào. Chiều lòng nhau một miếng ăn ngụm uống cũng đáng lắm chứ! Thế là bạn tôi tay năm tay mười gọt, nạo, bóp su hào. Ông Hải xăng xái ra góc vườn hái rau mùi, bà Lợi thì tiện tay rang lạc… Loáng một cái, đĩa nộm thơm ngon đã xong. Chia làm bốn phần cho vợ chồng ông bà chủ và hai mâm khách nữa, gọi là ăn lấy thơm lấy thảo! Cơm nước sắp xong thì hai người khách từ miệt vườn miền Tây ra chơi, tản bộ thăm làng, gặp một anh đi quăng chài ngoài sông Tích về, thấy mớ cá trê ngon liền mua luôn, mang về nhờ chủ nhà chế biến. Chủ, khách lại mỗi người một chân một tay, phút chốc, mâm cơm đã tô điểm thêm bát canh dưa nấu cá trê. Bữa ăn chốn quê mùa mà toàn đặc sản, nào gà Mía đầu công mình cốc (từng là sản vật tiến vua một thời) luộc chặt miếng to, rắc lá chanh thái chỉ, thịt lợn luộc dầm tương, cá sông, su hào ruộng, rau vườn, tương sân. Chủ, khách cùng làm, cùng ăn, cùng ríu ran chuyện trò. Ngon mắt. Ngon miệng. Ngon lòng!

Bà Lợi, ông Hải đều đã ngoại ngũ tuần, con cái phương trưởng, đứa Sài Gòn, đứa Hà Nội, cuộc sống đủ đầy nhưng ngày ngày, ông vẫn ra bày cái chõng tre trong cái quán đầu ngõ để bán cốc nước vối, bát chè tươi, thanh kẹo lạc… kiêm chỉ đường cho khách du lịch. Bà thì trông nom ngôi nhà với đầy đủ lệ bộ hoành phi, câu đối, sập gụ, tủ chè… luôn rộng cửa. Khách cứ vô tư vào thăm nhà, xem làm tương, vui thì nghỉ lại, ông bà phục vụ ăn nghỉ như người nhà. “Mỗi tháng cũng thêm được đôi ba triệu đồng. Cho vui”, ông bà cười hiền tâm sự. Nhà bảy người, cũng chả chật chội gì mà cũng ở cái nhà các cụ để lại quen rồi nên gia đình cũng không có nhu cầu sửa sang. Xưa thế nào, nay hầu như vẫn vậy, có khác chăng là thêm dãy nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại, bồn xứ trắng bóng loáng, ẩn một góc kín đáo mà vẫn tinh tươm, thêm cái bếp gas bên cạnh cái kiềng đun củi.

Sau khi được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia ngày
28-11-2005, rất nhiều gia đình ở Đường Lâm thức thời nhảy vào làm du lịch. Người đầu tư lớn, mong thu lợi nhanh, kỳ vọng được như các gia đình ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đến lúc thu bạc cắc, người chán nản âm thầm rút lui. người bốc đồng, hô hào đòi trả danh hiệu di sản để được phá mái ngói, đá ong xây nghễu nghện cao tầng. May thay, ông Hải, bà Lợi không vướng vào vòng ấy. “Mình sống thế nào thì vẫn thế thôi. Khách thích thì vào, chán thì ra. Cũng chẳng đầu tư gì mà lo lời lãi”, ông bà bảo vậy. Chính cái vẻ bình thản, cái cách sống đậm chất nông dân đồng bằng Bắc bộ ấy đã ngày càng làm quán cơm quê Hải Lợi thành một điểm mà du khách truyền tai nhau: “Nên đến!”.

Du khách luôn thích thú trải nghiệm những hoạt động trong đời sống thường ngày của người dân

Phát triển du lịch cộng đồng

Nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội 47km về phía tây, Đường Lâm là bảo tàng của lối sống nông nghiệp – nông thôn Việt Nam. Nó rất đặc trưng, điển hình cho nền văn minh nông nghiệp lúa nước, gắn liền với hai con sông Hồng và Tích. Hầu như những tài sản văn hóa vô hình hay hữu hình rất đa dạng, phong phú của nông dân Việt Nam vẫn còn được bảo tồn và gìn giữ ở nơi đây.

Mỗi năm, Đường Lâm đón khoảng 30.000 khách tới tham quan, phần lớn là khách nước ngoài.

Đường Lâm là bảo tàng của lối sống nông nghiệp – nông thôn Việt Nam

Hiếm có làng cổ nào còn có tới 500 ngôi nhà ba bốn trăm tuổi, cũng hiếm có làng cổ nào lại còn tựu đủ những di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa tiêu biểu, đại diện cho nền văn minh châu thổ sông Hồng. Bà Vũ Thị Vọng, người có 20 năm làm Trưởng ban Văn hóa xã, cho biết: Đường Lâm có 9 thôn, di tích tập trung ở Đông Sàng, Mông Phụ, Giáp Đoài, Cam Thịnh. Mỗi thôn lại tề tựu những nét độc đáo: nhà cổ đá ong, cổng cổ, ngõ cổ, giếng cổ (hiện còn 17 giếng cổ bằng đá ong) có niên đại hơn 300 năm. Có 160 ngôi nhà cổ có niên đại gần 400 năm (trong tổng số 500 nhà gỗ cổ của toàn xã). Kết cấu của những ngôi nhà chủ yếu làm bằng gỗ mít, xoan, lim, chò chỉ… tường bao bằng đá ong, gạch mộc, gạch bìa rất mỏng, vữa bằng đất trộn sáp ong, mật mía, vôi, trấu rơm…

Sống trong ngôi làng cổ kính ấy là những người dân ngày ngày chân lấm tay bùn mưu sinh trên thửa ruộng, mảnh vườn, dòng sông… Để giúp du khách trải nghiệm cuộc sống lam lũ của người dân, Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm đã thiết kế tour trải nghiệm làm nông nghiệp. Sau khi chiêm bái danh thắng, tham quan nhà cổ, du khách tham gia làm nghề truyền thống vốn có từ lâu đời của người dân làng cổ. Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm vừa phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Viện Nghiên cứu phát triển nông thôn tiến hành khảo sát sản phẩm du lịch ở Đường Lâm. Đoàn đã đến các gia đình khảo sát một số sản phẩm du lịch như: thịt lợn quay đòn tại gia đình ông Kiều Văn Trình (thôn Đông Sàng); làm bánh kẹo truyền thống ở gia đình ông Cao Văn Hiền (thôn Đông Sàng); làm chè lam ở gia đình ông Phan Văn Hải, Nguyễn Văn Hùng, Hà Hữu Thể (thôn Mông Phụ); nấu rượu ở gia đình ông Hà Hữu Thể (thôn Mông Phụ), gia đình ông Nguyễn Văn Tài (thôn Cam Lâm); làm bánh gai ở gia đình ông Giang Vĩnh Phúc (thôn Mông Phụ); làm chè kho, bánh nếp, bánh tẻ ở gia đình ông Kiều Văn Trình (thôn Đông Sàng); làm một số sản phẩm mây tre đan của thôn Cam Lâm… Ông Nguyễn Trọng An, Phó ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm, cho biết: Đây sẽ là những sản phẩm du lịch phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã và mang những đặc trưng, tạo được thương hiệu và dấu ấn cho du khách. Đến với Đường Lâm, du khách có thể tham gia các hoạt động nông nghiệp với người dân như: cày, bừa, cấy, gặt lúa, trồng rau, ngô, khoai, sắn, đánh bắt cá… Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm cũng đã xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng tại các gia đình, tập huấn nghiệp vụ để người dân làm du lịch, tạo nguồn thu ổn định và góp phần bảo tồn di tích.

… Chiều tà, trước khi rời Đường Lâm, tôi ra lăng Ngô Quyền dâng hương để tưởng nhớ tiền nhân. Người bạn ngồi ở cái bàn nước cạnh đền chờ tôi vào hành lễ. Xong xuôi, chúng tôi chào bà ra về thì bần thần cả người. Bà lão trạc 60 tuổi ấy bán một gói lạc mà ai ở trong làng cũng bán 2.000 đồng với giá gấp năm lần. Chưa hết, bà còn bắt chúng tôi trả 10.000 đồng công trông xe. Bạn tôi thắc mắc: “Cháu ngồi đây tự trông xe chứ bà có phải trông đâu mà lấy tiền ạ?”. Đuối lý, bà gắt: “Không trả thì phải cho”. Số tiền chả bõ bèn gì nhưng chúng tôi không chấp nhận chuyện phi lý ấy. Thế là bà tiễn chúng tôi bằng những lời mạt sát.

Cách đây hơn sáu năm, khi Đường Lâm đang náo nức trước vận hội làm du lịch, tôi đã chứng kiến những chuyện chụp giật như thế này và đã lo ngại rằng không khéo “cầm vàng mà để vàng rơi”. Lúc ấy, nhiều người quen biết, thậm chí thân thiết với tôi, là dân Đường Lâm đã nổi sung lên, vu cho người viết là “thiếu thiện chí”, “thiếu hiểu biết”, “bới bèo ra bọ”… Nay thì…

Tại cuộc hội thảo “Phát triển sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa Việt cổ” do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch mới tổ chức ở Đường Lâm, các chuyên gia văn hóa, chuyên viên du lịch đều có một nhận định: Do tính chủ quan, thiếu chuyên nghiệp trong việc gìn giữ, bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa nên hầu hết các tiềm năng du lịch tại Đường Lâm chưa được khai thác một cách triệt để và có hiệu quả. Chỉ sau khi được công nhận là làng di sản một thời gian, ở Đường Lâm đã xảy ra hiện tượng chèo kéo khách.

Chẳng hạn như một số người đã thường xuyên đứng ở đình làng, hễ thấy khách du lịch thì ngay lập tức lôi kéo vào nhà mình, và nói rằng nhà mình là nhà… cổ nhất. Một hiện tượng khác cũng làm mất lòng du khách là khi vào tham quan nhà cổ thì không thấy ai hướng dẫn, nhưng khi vừa bước ra khỏi nhà thì một anh bảo vệ xuất hiện, yêu cầu phải trả lệ phí tham quan.

Vẫn biết con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng nếu không ngăn chặn kịp thời những biểu hiện đó thì Đường Lâm sẽ mất đi vẻ cổ kính, tôn nghiêm và nhiều du khách sẽ một đi không trở lại.

  • Làng cổ Đường Lâm quy tụ năm trong tổng số chín thôn của xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là: Mông Phụ, Cam Thịnh, Đông Sàng, Đoài Giáp và Cam Lâm; diện tích tự nhiên khoảng 800,25ha, dân số hơn 8.000 người. Nơi đây được nhiều người biết đến với những cái tên thuần Việt như: làng Việt cổ, làng cổ đá ong, ấp hai vua (nơi sinh ra và lớn lên của Ngô Quyền và Phùng Hưng).
  • Theo thống kê, có khoảng 15 gia đình đã tổ chức đón khách du lịch, phục vụ ăn nghỉ tại nhà. Mỗi năm, Đường Lâm đón khoảng 30.000 khách tới tham quan, phần lớn là khách nước ngoài.
  • Ông Nguyễn Văn Thành, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đường Lâm, cho biết: “Để bảo tồn làng cổ Đường Lâm, xã đang thực hiện chương trình giãn dân và năm nay sẽ tổ chức cho khoảng 30 hộ về nơi ở mới. Đó là các gia đình có ba cặp vợ chồng, có nguy cơ chia nhà cổ làm nơi ở riêng. Tuy nhiên, sau khi được di dời ra nơi ở mới, các hộ phải cam kết không chuyển nhượng nhà”.

Nguồn Sài Gòn Giải Phóng thứ bảy

Фильчаков прокурор отзывы