Lên Mẫu Sơn uống trà shan tuyết

0
149
Trà shan tuyết cổ thụ ở Mẫu Sơn. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng
Trà shan tuyết cổ thụ ở Mẫu Sơn. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Theo dấu “trà bơ”

Hành trình lên núi cao tìm những vùng trà shan tuyết cổ thụ của tôi có một ngã rẽ thú vị từ một buổi trà dư tửu hậu ở nhà một người bạn ở Lạng Sơn.
Anh Nguyễn Chí Thức, Phó chánh văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, biết tôi mê trà nên kể câu chuyện trà bơ. Chuyện rằng vào năm 1999, khi anh về dạy học ở huyện Lộc Bình, anh được người bạn mời uống trà bơ. Trà rất thơm và đậm, nhưng lạ thay không thấy mùi vị bơ đâu! Sau đó anh được giải thích đây là loại trà do bà con dân tộc ít người mang từ núi xuống chợ bán, ai mua thì lấy ống bơ đong trà nên người ta gọi là “trà bơ”.

Quá thú vị với câu chuyện, tôi lên Lộc Bình, ngược Mẫu Sơn, mái nhà của Lạng Sơn. Mẫu Sơn là vùng núi cao chạy theo hướng Đông – Tây cách Lạng Sơn 30 ki lô mét về phía Đông, giáp với biên giới Việt – Trung. Vùng này có địa hình đa dạng. Rải rác gần khu rừng trồng là nơi cư trú của các dân tộc Dao, Nùng, Tày. Trong tổng diện tích hơn 10.740 héc ta có 5.380 héc ta đất lâm nghiệp và 1.543 héc ta rừng nguyên sinh với nhiều loại cây quý hiếm. Và trong số nhiều loài thực vật đặc trưng thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng có họ trà, họ tre nứa, trúc sặt…

Rong xe máy uốn lượn trên những cung đường phủ đầy sương lạnh, một bên là vách núi dựng thành, một bên là vực sâu hun hút, tôi lên đỉnh Mẫu Sơn. Vừa thấy một sạp hàng bày bán mấy loại sản vật núi rừng: măng ớt ngâm quả mắc mật, thuốc Nam, chanh rừng…, tôi tạt vào hỏi trà shan tuyết. Bà chủ cười vui vẻ: “Vừa pha một ấm đấy. Anh vào uống đi!”. Nhấp chén trà nước vàng sậm như mật ong, thơm lừng, chát ngọt, giở túi trà ra xem thì thấy toàn những búp mập mạp, phủ đầy lông tơ trắng muốt, tôi mừng như bắt được vàng!

Theo chỉ dẫn, tôi đến xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, nằm liền kề xã Mẫu Sơn. Đến thôn Ngàn Pặc, tôi gặp ngay bên vệ đường những cây trà shan tuyết cao hơn mái nhà, thân cây chỗ thì mốc thếch như da trăn, chỗ phủ đầy rêu xanh và địa y trắng, đỏ. Đường kính thân có cây rộng gần một mét, lá to như lá đa, búp đần đẫn phủ đầy lông tơ trắng muốt. Thấy phía trước sân một ngôi nhà ở lưng chừng núi mọc đầy những cây trà cao nghễu nghện, tôi bỏ xe máy lội bộ theo những đường mòn ngoằn ngoèo đến bên hiên nhà hỏi thăm một bà lão đang ngồi nhặt trà. Bà Dương Mùi Pham, 83 tuổi, cho biết: “Nhà nhiều trà lắm, cây cao 30 mét, 50 mét, nhiều cây cao quá không trèo lên hái được…”. Trà hái về được bà Pham sao bằng chảo gang, vò bằng tay. Trà sao xong, một phần để gia đình uống, phần lớn được các con của bà mang xuống gửi bán ở các sạp hàng trong khu du lịch Mẫu Sơn với giá 150.000 đồng/ký.

Bà Dương Mùi Pham, 83 tuổi, người Dao Lù Gang ở thôn Ngàn Pặc, xã Công Sơn, huyện Cao Lộc đang ngồi nhặt trà
Bà Dương Mùi Pham, 83 tuổi, người Dao Lù Gang ở thôn Ngàn Pặc, xã Công Sơn, huyện Cao Lộc đang ngồi nhặt trà

Khi đến thôn Thán Dìu, tôi gặp ông Triệu Sáng Sinh – một người làm trà có tiếng. Ông cho biết vào tháng Hai âm lịch thì người Dao bắt đầu làm trà vụ xuân, còn trà vụ hè thu thì được hái vào tháng Năm đến tháng Tám âm lịch. Đó là tính những cây mọc ở trên rừng, còn những cây mọc quanh nhà thì cứ thấy búp là hái về sao. Trà ở đây sạch hoàn toàn vì bà con không chăm bón gì, cứ để mặc cây luồn bộ rễ chắc, khỏe xuống tầng đất pha đá mục để hút dinh dưỡng, vươn cành lá lên trời cao hấp thu sương trời, khí núi.

Anh Hoàng Văn Tạ, Phó trưởng công an xã Mẫu Sơn, chủ nhà nghỉ Xứ Hoa Đào, là một người rất tâm huyết với cây trà shan tuyết của đất này. Anh Tạ cho biết toàn khu Mẫu Sơn có khoảng 3.000 cây trà shan tuyết cổ thụ, cao hàng chục mét, đường kính thân 30-40 cen ti mét, cá biệt có cây to từ 80 cen ti mét đến hơn 1 mét.

Mấy năm trước, anh Tạ từng đầu tư nhà xưởng, mua máy vò, tôn quay về làm trà. Anh hướng dẫn người dân phác cành để cây ra nhiều tán, cho nhiều búp, khi hái được trà, người dân mang xuống tận xưởng bán trà tươi để sao. Theo nhiều người, trà của anh Tạ làm uống ngon lắm, nhưng tiếc là anh chưa đầu tư bao bì và làm thương hiệu.

Chậư nặm – phong tục độc đáo

Những nơi có cây trà, có nghề trà sẽ có phong tục uống trà độc đáo. Tin là vậy nên suốt mấy ngày lội suối băng rừng đi tìm cây trà và xem người dân sao trà, tôi đều để ý hỏi cách uống trà của người dân ở đây có gì đặc biệt. Một người đàn ông Tày – trung niên tên Hoàng Văn Sự cho biết người Tày ở Lạng Sơn có phong tục chậư nặm.

Chậư nặm, tiếng Tày có nghĩa là mời uống nước, cụ thể là nước trà. Đây là nghi lễ không thể thiếu trong đám cưới xưa và hiện nay vẫn được duy trì. Cô dâu chậư nặm tại nhà chồng, chú rể chậư nặm tại nhà vợ. Nghi lễ này được thực hiện khi cô dâu chú rể đã làm lễ gia tiên, đã được tổ tiên, họ hàng chấp thuận, khách đang vui tiệc, một người uy tín trong gia đình sẽ hướng dẫn cô dâu, chú rể mời trà theo thứ tự, bắt đầu từ các cụ bề trên đại diện cho hai họ, tiếp đó đến bố mẹ, anh em ruột của bố mẹ, rồi đến họ hàng, láng giềng thân thiết, ra đến bạn bè… Cũng có nơi, người ta làm hẳn những ngôi nhà tre nứa dành riêng cho việc thực hiện nghi thức chậư nặm.

Bà Lộc Bích Kiệm, nhà thơ – nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Phó chủ tịch thường trực Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn, cho biết cách thực hiện nghi thức chậư nặm cũng rất trịnh trọng, luôn có phù dâu, phù rể hỗ trợ cô dâu chú rể rót trà và đáp lời. Khi người đại diện gia đình giới thiệu người nào thì phù dâu phù rể rót chén trà đặt lên khăn tay cho cô dâu chú rể mời người đó. Khăn tay cũng là chiếc khăn tay đẹp, gấp tư vuông vắn trên đôi tay của cô dâu chú rể. Cô dâu chú rể quỳ hoặc cúi khom lưng, hai tay bưng chén trà trịnh trọng dâng mời. Nếu người được mời nước là nam giới thì sẽ có thêm hai điếu thuốc lá; là nữ giới sẽ có thêm một miếng trầu. Người được mời nước sẽ lì xì cô dâu chú rể một món tiền gói trong tờ giấy đỏ cùng với lời chúc phúc. Lời chúc phúc có khi bằng lời nói, có khi bằng điệu lượn (Chúc cho vợ chồng thuận lợi hòa hợp/Vợ có giận chồng dịu đi/Chồng có giận vợ làm lành…). Phù dâu phù rể sẽ thay cô dâu chú rể đáp lời bằng tiếng “dạ”, bằng lời nói hoặc bằng điệu lượn (Kính dâng tư đường tổ tiên phù hộ độ trì/Kính dâng cha mẹ thân sinh công trình nuôi dưỡng/Kính dâng chú thím bác bá nuôi dạy lớn khôn…). Có nơi sau khi mời nước, cô dâu chú rể tặng luôn khăn kỷ niệm.

“Nghi lễ chậư nặm thực chất là sự trình diện và nhận diện của cô dâu chú rể với gia đình, họ hàng, những vị khách quý. Nó còn thể hiện niềm hạnh phúc lớn lao của ông bà, cha mẹ, người thân khi con cháu trưởng thành. Nó cũng thể hiện lòng kính trọng, biết ơn của cô dâu chú rể với ông bà, cha mẹ, người thân. Chậư nặm không thuần túy là mời uống nước. Nó giúp đôi trẻ nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của người con khi đến tuổi trưởng thành, nó đánh dấu mốc quan trọng khi con người thực sự bước vào cuộc sống gia đình, theo đó, nhiều ý nghĩa nhân văn được mở ra. Chính vì thế mà cả hai phía cô dâu chú rể và người thân được mời nước đều cảm thấy thiêng liêng, hạnh phúc”, bà Kiệm cho biết.

Nguồn Thời báo Kinh tế Sài gòn

лобановский александр биография