Nghề phục chế – Bàn tay vàng, công bạc cắc

0
62

Một chiều la cà ở hiệu sách cũ tại TPHCM, nhà sưu tầm tranh Gérard Chapuis thấy một bức tranh mốc meo, nằm lẫn lộn trong mớ sách báo cũ vứt lăn lóc trong góc tối. Bức tranh vẽ ba cô gái đang tắm trong vườn vào một đêm gió mát trăng thanh. Mặt sau của tranh ghi bằng tiếng Pháp mấy dòng chữ: “Le bain de minuit, toile execute à Paris en été 1958” (Tắm đêm, vải – sơn dầu trên vải – thực hiện tại Paris vào mùa hè năm 1958) kèm chữ ký của Ngô Viết Thụ…

Đọc dòng thủ bút kèm chữ ký, Gérard mừng rơn. Nhưng ngặt nỗi, mặt tranh đã bong tróc từng mảng, hầu như nát bấy. Tiếc dấu tích của một kiến trúc sư – họa sĩ nổi danh nên anh Gérard cẩn thận gom góp từng mẩu vụn màu của tranh gói ghém cẩn thận, móc ví trả người bán sách hai triệu đồng rồi mang tranh đến thẳng xưởng phục chế.

Bức tranh Tắm đêm (sơn dầu trên vải, 1958, Ngô Viết Thụ) trở lại trạng thái ban đầu sau một tuần được họa sĩ Võ Hữu Bình bóc, dán, vẽ

Muôn nẻo đường hư

Họa sĩ Võ Hữu Bình, Giám đốc Công ty TNHH thương mại dịch vụ trang trí Sắc Việt, đón bức tranh từ tay anh Gérard, đặt lên bàn, lấy kính lúp săm soi từng chi tiết rồi lại lùi ra xa để ngắm toàn cảnh. Nhíu mày, trầm ngâm một hồi rồi mới buông giọng nhè nhẹ: “Được! Anh để đây tôi phục chế. Yên tâm!”. Gérard thở phào.

Bức tranh này bị người chủ trước bảo quản không đúng cách. Người ta lồng tranh vào khung kính cộng với việc treo ở nơi độ ẩm cao nên lâu ngày, tranh dính vào mặt kính. Khi dỡ kính ra, từng mảnh màu cứ thế mà róc hết ra. Anh Bình phải dùng một chiếc kẹp nhỏ gắp từng vảy màu có khi chỉ bằng nửa hạt gạo, đính lại vào tranh bằng một thứ keo tổng hợp. “Những chỗ màu đã mất, tôi phải cảm tinh thần, bút pháp của họa sĩ rồi vẽ lại sao cho thuần mắt. Mất cả tuần”, anh cho biết.

Từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2004, được sự tài trợ của tổ chức ASIALINK, chị Caroline Fry – chuyên gia người Australia – cùng với các cán bộ của bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã phục chế thành công bức tranh Em Thúy (sơn dầu, 1943, Trần Văn Cẩn), gây được tiếng vang lớn trong công chúng và giới mỹ thuật nói riêng…

Cô nhớ lại: “Trên mặt tranh, tôi tìm thấy cả vết phân của thạch sùng, cả vết ám của khói thuốc. Các bạn phải biết rằng khi tranh có những lỗ, những vết bong tróc hay mốc thì sự chú ý của người xem sẽ không tập trung vào ý tưởng của bức tranh mà di chuyển sang chính các vết hư hỏng đó.

Tình trạng hư hỏng ấy là còn may mắn. Ở nhiều nước châu Âu, tôi tu sửa tranh không chỉ cho các bảo tàng mà còn cho nhiều tư nhân nữa, nên đôi khi xảy ra những trường hợp tranh bị xâm hại một cách ngộ nghĩnh hoặc đáng ngạc nhiên hơn nhiều. Có bà mang đến cho tôi bức tranh mà mặt tranh hỏng nặng do chồng bà ta say rượu ném cả cái chai vào tranh. Có khi mặt tranh bị viết lung tung. Có khi có quý bà yêu quá không kìm được ghé môi hôn lên mặt tranh, thế là tôi phải xử lý cả dấu son môi! Tóm lại là một loạt tác hại do những cách xử sự hết sức điên rồ!”.

Ông Trần Minh Tiệp, người phụ trách trực tiếp các dự án tu sửa, phục chế tranh của bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, ưu tư: “Nếu như ở nước khác, các tác phẩm mỹ thuật có tuổi đời rất cao, lên tới hàng trăm năm thì ở nước ta, thời gian vài chục năm có thể làm cho các bức họa xuống cấp trầm trọng”. Điều kiện khí hậu khắc nghiệt cùng với những yếu tố bụi bẩn, muội thuốc lá, phân côn trùng, toan không bền, sợi vải không chắc dễ dàng phá hủy bề mặt lớp tranh. Dù hiện nay, các phòng triển lãm và các kho trong bảo tàng đã có hệ thống điều hòa nhiệt độ và điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng nhưng vẫn còn rất nhiều tác phẩm bị hư hỏng nặng mà cán bộ phục chế không thể can thiệp.

Bảo tàng lưu giữ, sưu tầm được nhiều tác phẩm hội họa trước cách mạng nhưng nhiều bức sơn dầu, các họa sĩ sáng tác trong điều kiện sơ sài, sơn không tốt, lượng dầu hỏa pha quá nhiều nên tình trạng mặt tranh dễ bị phá hủy, bong sơn.

Họa sĩ Võ Hữu Bình, hành nghề phục chế tranh từ năm 2005 và đã tân trang cả ngàn bức họa của các họa sĩ trong và ngoài nước. Theo anh, hầu hết những bức họa do các họa sĩ vẽ từ những năm 1990 trở về trước đều… hỏng hết. Bởi thời đó đất nước khó khăn, cơm còn chả có mà ăn lấy đâu ra tiền mua sắm họa phẩm. Các họa sĩ đành lấy a dao pha với phẩm màu để vẽ sơn dầu. Bố thì lấy vải tám (vải xấu, thường chỉ dùng để may đồ bảo hộ lao động, đồ tang). Khung thì làm bằng các loại gỗ tạp nên trong điều kiện khí hậu ẩm ướt như nước ta, chúng dễ dàng bị mối xông, mọt đục… Nhiều họa sĩ ẩu, rửa cọ không kỹ nên khi vẽ màu không dính vào toan, cũng phải đến tay nhà phục chế.

Họa sĩ Bùi Thanh Phương thì cười buồn bảo: Một bộ sưu tập cả ngàn bức tranh ở quán cà phê Lâm ngoài Hà Nội là bộ sưu tập quan trọng của mỹ thuật Việt Nam thời Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã nhuốm màu thời gian, không gian Hà Nội một thời. Xem lại thấy xúc động. Nhưng nói màu thời gian cho sang vậy thôi chứ thực tế là bị nhuốm màu… khói thuốc lá. Ngày nào cũng vậy, khách đến quán cứ vô tư nhả khói trong mấy chục năm như thế thì làm gì tranh không bị tối rầm đi!

Tranh hỏng còn hỏng từ từ chứ đồ cổ mà hỏng thì bất thình lình lắm. Suốt cả ngày la cà ở đường Lê Công Kiều (phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TPHCM), anh bạn tôi mới mua được hai cái đĩa đời Khang Hi (Trung Quốc). Gói ghém cẩn thận, đút vào ba lô, chằng sau yên xe máy rồi anh tấp vào quán ven đường nghỉ lấy sức. Ngụm cà phê chưa trôi xuống cổ bỗng nghe đánh rầm. Sau thoáng giật nảy mình, hốt hoảng quay lại anh mới hay ông hàng cơm đang lui cui dựng bạt bán hàng thì cái cọc rơi trúng ba lô của mình. Run rẩy giở ra, đôi đĩa trị giá 80 triệu đồng đã thành mấy chục mảnh vụn.

Khoa học tốt, kỹ thuật tốt, tình cảm tốt (đồng cảm với tác giả) thì mới làm nghề phục chế được

Hao tâm tổn trí

Theo anh Nguyễn Văn Hảo, người hơn 20 năm phục chế đồ cổ: Trong số những công đoạn để phục chế một món đồ vỡ, hỏng thì việc đắp cốt và gắn kết các mảnh vỡ là đơn giản nhất dù vẫn rất cần sự kiên trì, tỉ mẩn… Công đoạn hoàn thiện mới thực sự cần có một bàn tay tài hoa và tư duy tốt về hội họa.

Nếu sản phẩm bị vỡ vụn từng mảnh thì trước hết, thợ phục chế phải gắn lại các mảnh vỡ theo đúng trật tự của nó. Còn đối với những sản phẩm bị sứt, vỡ mất một phần, cần tạo ra cốt cho các phần thiếu hụt đó bằng cách dùng xi măng trắng hoặc bột đá trộn với một loại keo đặc biệt tạo mới các phần bị thiếu hụt sao cho đúng hình dáng nguyên gốc ban đầu của sản phẩm. Các sản phẩm thường gặp nhất là các loại bình gốm bị mất quai, mất vòi hay các loại lọ, thạp… vỡ miệng. Sau khi các mảnh ghép đã được gắn kết, người thợ phải dùng giấy ráp để đánh các đường gắn cho chúng không còn ranh giới với những mảnh gốm. Xong công việc đánh nhẵn, sản phẩm sẽ được tạo màu nền bằng một loại hóa chất đặc biệt. Sau đó mới đến vẽ – khâu khó nhất trong quá trình phục chế. Bởi, các nét vẽ ở đồ cổ nguyên bản thường có độ nét sâu. Hoa văn trong đồ cổ chia thành hai loại. Một loại là những hoa văn phức tạp, tinh xảo và một loại là các nét vẽ khá đơn giản, thậm chí có phần ngây ngô. Với loại hoa văn phức tạp thì người thợ cần phải thể hiện được đúng với tinh thần của sản phẩm nguyên gốc và chính xác đến từng chân tơ kẽ tóc. Còn với loại sản phẩm đơn giản thì người thợ lại phải thể hiện đúng như sự ngây ngô vốn có. Đây là điều không đơn giản bởi các nét vẽ ngày nay thường được trau chuốt rất cẩn thận. Chính bởi vậy, làm cách nào để có được những nét vẽ như sản phẩm nguyên bản đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao. Sau khi vẽ cho sản phẩm, công đoạn cuối cùng là làm cũ phần phục chế bằng các kỹ thuật chuyên biệt.

Đến nhà họa sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, người chuyên phục chế cho các chủ hàng ở con đường cổ ngoạn Lê Công Kiều nói riêng, giới chơi đồ cổ ở Việt Nam nói chung, tôi phải khéo léo lắm mới lách được vào chỗ ngồi uống trà. Căn nhà ngót dăm chục mét vuông của anh chứa bề bộn những dấu tích văn hóa trăm năm, ngàn năm. Anh khiêm tốn bảo cái thứ mình làm từ năm 1985 đến nay là “cái nghề thủ công ấy mà”. Nếu nhìn vào nguyên vật liệu mà anh sử dụng thì đúng thế thật. Thì quanh đi quẩn lại có dao, giũa, kìm, búa, keo tổng hợp, composite, bút vẽ… – nào có to tát gì cho cam. Ấy thế nhưng “nếu chỉ làm đồ nguội (vá những mảnh vỡ của đồ cổ, T.G.) thì chỉ học ba tháng là làm thuần thục. Nhưng để vẽ cho đúng tuồng tích, để thổi hồn vào những thứ mình phục chế thì… vô chừng”, anh tâm sự.

Nóng vội thì đừng làm nghề phục chế, không có duyên thì cũng chớ động đến món này. Thế nên cái lọ độc bình cao gần 2m, miệng vỡ nham nhở anh Hùng chỉ làm trong có một giờ là xong nhưng con cò bằng gốm đời Minh (Trung Quốc) bị gãy cổ, nằm bẹp ở góc nhà đã 10 năm rồi mà anh vẫn chưa dám làm.

Họa sĩ Võ Hữu Bình đúc kết: Yêu cầu đối với người phục chế phải vừa là họa sĩ để hiểu phong cách vẽ của họa sĩ, vừa là nhà nghiên cứu để hiểu giai đoạn sống của họa sĩ (dẫn đến chất liệu màu họ sử dụng, đề tài, bối cảnh họ sáng tác), vừa là kỹ sư hóa chất để biết được hiệu ứng của sự kết hợp giữa các hóa chất, màu cũ với hóa chất, màu mới mà mình đưa vào trong quá trình phục chế sẽ biến đổi như thế nào… Vẽ đã khó, phục chế còn khó hơn. Chính họa sĩ, vẽ lần hai cũng không được như bức tranh đầu thế mà người phục chế lại phải giữ được 100% trạng thái của tranh.

Có tấm bố bị hỏng, anh phải kỳ khu bóc từng mảng màu ra dán vào tầm bố khác. Tấm bố bị thủng thì vá bố rồi vẽ… điền vào chỗ trống.

Anh triết lý: “Người ăn bơ sữa thì không thể phục chế tốt tranh của người ăn mắm nêm được. Người Đức, Pháp, Bỉ phục chế rất giỏi nhưng họ vẫn phải gửi sang những tấm tranh của các họa sĩ Việt Nam để tôi làm. Họ có máy móc hiện đại (máy chụp cắt lớp…) nhưng bàn tay lại không tỉ mỉ bằng người Việt mình. Họ cũng lại không đồng cảm được với tâm tính của người Việt nên phục chế xong là tranh gần như mới, mất hồn cốt. Bức Em Thúy (sơn dầu, 1943, Trần Văn Cẩn) là một ví dụ”.

Khoa học tốt, kỹ thuật tốt, tình cảm tốt (đồng cảm với tác giả) thì mới làm nghề phục chế được. Vì thế, “có bức tôi ngắm nghía mấy tháng trời để rồi chỉ sửa trong vài chục phút”, anh Bình cho biết.

Lãi là được sẻ chia

Làm phục chế là đi lượm bạc cắc. Anh Bình thường phục chế một bức tranh trong thời gian từ 7 đến 20 ngày và chỉ nhận được dăm ba trăm ngàn tiền công, trong khi ấy, ở nước ngoài phải là vài ngàn USD. Anh Hùng thì tân trang cho những món đồ cổ cả chục ngàn USD chỉ để nhận công cao là một triệu đồng. Hỏi có chạnh lòng không thì họ chỉ cười tươi tắn bảo: “Nghề này lãi nhất là được sẻ chia”.

Anh Hùng vừa có người mang đến một bức tượng đồng bị gãy tay và đưa cuốn catalogue yêu cầu phục chế đúng như một bức ảnh trong đó. Sướng rơn, hóa ra chính ông khách mang đến lời giải cho bức tượng gỗ mà anh để trong nhà cả chục năm nay, chưa biết phục chế kiểu gì. Bức của ông khách và anh y hệt nhau, chỉ khác chất liệu. Anh Bình thì tự hào vì những nhà sưu tầm tranh: Trần Hậu Tuấn, Trương Thuận, Lê Thuận…, các bảo tàng: Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long… mở cửa những phòng tranh trị giá từ trăm ngàn đến triệu USD cho mình mặc sức tự tung tự tác. “Người ta bị cấm sờ vào hiện vật, mình thì vuốt ve, bóc, vá… mặc tình. Hạnh phúc ấy không gì mua được”, anh Bình hỉ hả.

Món đồ đã phải phục chế thì dù tay nghề họa sĩ – nghệ nhân có giỏi đến mấy, người tinh tường vẫn nhận ra. Cũng có những người tút tát món đồ để đi lòe người thiếu hiểu biết rằng đó là đồ nguyên bản rồi bán với giá cắt cổ. Cuộc sống muôn màu, chuyện ấy thì chẳng tránh được. Nhưng với những người coi phục chế hơn cả một thứ nghề mưu sinh thì làm cho món đồ lỗi thành tốt hơn để người ta thưởng ngoạn, thờ cúng, để nâng cao giá trị của những báu vật ở đời, hạnh phúc ấy mới là viên mãn.

Tiến sĩ sử học Bá Trung Phụ, Trưởng phòng Trưng bày – tuyên truyền, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh, tâm sự: “Thiếu chỉ một nét lượn của hoa văn, một núm đất… cũng làm người ta không hiểu hết được giá trị của hiện vật. Thế mới thấy quý công lao của những người làm nghề phục chế!”.

Quan trọng là vậy nhưng ở Việt Nam hiện chưa có nơi đào tạo bài bản nghề này. Tất cả những người làm nghề hiện nay đều nhờ tự học.

Lãi lớn nhất của nghề là được sẻ chia. Trong ảnh: Họa sĩ Nguyễn Mạnh Hùng trao đổi với khách hàng trong xưởng phục chế của mình

Cơ quan phục chế của Pháp

Nằm trong khuôn viên lâu đài Versailles (phía tây của Paris, tại thành phố Versailles), cơ quan này có 80 biên chế, các quản đốc, các chuyên gia nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ, về chất liệu, về thẩm định đánh giá, các kỹ sư về khoa học tự nhiên…

Còn các kỹ thuật viên tu sửa trong biên chế tại xưởng thì rất ít, đa số hành nghề tự do. Họ được đào tạo trong 4 năm về phương pháp tu sửa, cách lên màu, về hóa học, vật lý. Họ tác nghiệp qua cạnh tranh. Tu sửa phục chế là một việc phức tạp, đa dạng nhưng xưởng này quanh năm không bao giờ hết việc. Xưởng nhận việc từ các chủ sở hữu tác phẩm nghệ thuật như các bảo tàng quốc gia, bảo tàng địa phương, bảo tàng tư nhân, các chủ sưu tập. Mỗi việc tu sửa phải có dự án, dự toán và qua 3 cuộc họp: họp đồng nghiệp, họp hội đồng xưởng và họp với chủ sở hữu.