Những nhánh rau rừng

0
811
Khách hàng đến tham quan và mua rau rừng tại trang trại của chị Trần Thị Nhung. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Tôi ấn tượng mãi lần lên buôn Đăng Đừng, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Cả ngày hôm trước ăn đám cưới với rượu thịt ê hề, sáng hôm sau, anh K’Kim chủ nhà hỏi tôi muốn ăn gì, tôi thú thật chỉ muốn ăn rau rừng. Con trai anh nghe vậy liền rủ tôi vào rừng hái rau. Sau hơn hai giờ len lỏi giữa những tán rừng già, chúng tôi trở về làm một bữa đại tiệc rau ngon lành với rau biếp xào tỏi, rau bùm nấu canh đọt mây, rau chua me đất ăn sống với một nắm búp trà. Từ lần ấy, tôi nghiện rau rừng và khám phá ra cả một thị trường rau rừng rộng khắp.

Khởi nghiệp với trồng… rau rừng

Vào chợ xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng hỏi mua rau rừng, tôi được chỉ đến sạp của bà Sáu Tuyền. Bà chào mời: “Rau tầm bóp ngắt lá vò nhẹ, rửa sạch để xào tỏi, xào bò; rau chùm ngây, rau khổ qua nhúng lẩu gà, lẩu bò; rau lỗ bình (lộ bình) là một loại thảo dược, luộc hoặc nhúng lẩu ăn ngon lắm…”. Bà khoe với khách là hàng ngày bà đặt người dân vào rừng hái rau rồi thu mua để bỏ mối cho các nhà hàng, đám cưới và bán ở chợ. Mỗi ngày bà bán mấy tạ rau rừng.

Lang thang trong chợ, tôi được chỉ đến trang trại trồng rau lỗ bình của chị Trần Thị Nhung ở thôn Liên Trung. Chị Nhung 26 tuổi, là thạc sĩ nông nghiệp. Ý tưởng trồng rau rừng đến với chị sau một lần chị đọc được đề tài khoa học “Nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng các mô hình trồng một số loại rau rừng có giá trị tại Lâm Đồng” do thạc sĩ Lương Văn Dũng ở Đại học Đà Lạt làm chủ nhiệm và được nghiệm thu vào tháng 7-2013.

Trên cơ sở tiếp nối đề tài nghiên cứu này, Trung tâm Nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới thuộc Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đã trồng thử nghiệm và chọn ra được ba loại rau rất thích hợp với điều kiện khí hậu, môi trường ở Lâm Đồng, đó là bầu đất, lỗ bình và cần dại. Nhận thấy có cơ hội với việc trồng rau rừng, chị Nhung từ bỏ công việc ở một công ty tư nhân trong lĩnh vực môi trường ở TPHCM về quê trồng rau. “Sau khi tìm hiểu đặc tính, quy trình chăm sóc, tôi mạnh dạn đầu tư nhà kính hiện đại trồng thí điểm rau lỗ bình trên diện tích 400 mét vuông với giàn tưới tự động và đặt mua giống tại trung tâm”, chị Nhung nhớ lại.

Ban đầu do chưa thành thạo trong khâu ươm mầm nên cây giống bị chết đến 70%. Không nản chí, chị Nhung nhiều lần lặn lội lên trung tâm học hỏi kỹ thuật làm đất, quy trình tưới nước rồi mua thêm cây giống về trồng tiếp… Ba tháng sau, vườn rau đã ổn định, tươi xanh. Tiếp đến, chị lập trang “Rau Lỗ Bình” trên Facebook để quảng bá thương hiệu và tìm kiếm thị trường.

Rau lỗ bình (tên khoa học là Lobelioideae) là loài rau hoang dại giàu giá trị dinh dưỡng, lại được xem là một loại thảo dược, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, có thể dùng ăn sống, trộn với thịt bò, thịt heo, hoặc chế biến món xào, món canh, ăn kèm các món lẩu, hay luộc chấm kho quẹt ăn cũng rất thú vị.

Rau sạch lại làm thương hiệu tốt, chị Nhung bán giá 40.000 đồng/ký, sản lượng trung bình đạt 400 ký/đợt thu hoạch, mỗi đợt cách nhau khoảng 45 ngày, thu nhập trung bình mỗi tháng của chị hơn 20 triệu đồng. Hiện chị Nhung đang tiếp tục nhân giống và mở rộng thêm hơn 2.500 mét vuông đất trồng. Tới nay, mạng lưới khách quen của chị đã lên khoảng 100 nhà hàng, khách sạn, quán ăn ở Lâm Đồng, Buôn Ma Thuột, TPHCM, Đồng Nai, Hà Nội…

Sự thành công của chị Nhung đang mở ra cơ hội mới cho nông dân trong việc đa dạng cây trồng trên vùng đất Tân Hà. Hiện tại huyện Lâm Hà đã có ba trang trại trồng rau lỗ bình. Đây là loại rau phù hợp điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng, dễ trồng, chỉ cần tưới đủ nước là chúng sống khỏe, ít có sâu bệnh.

Rừng rau: kho tri thức

Tỉnh Lâm Đồng có độ che phủ rừng trên 60%, với khoảng hơn 3.000 loài thực vật bậc cao (theo số liệu năm 2015 của Viện Điều tra quy hoạch rừng). Đây là nguồn tài nguyên lớn của tỉnh. Những năm trước, các loài rau rừng thường được người dân tộc ở Lâm Đồng thu hái làm thức ăn là rau bép, đọt mây, rau tai voi, quả cà đắng, hoa chuối rừng…, nhưng chúng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng đã đặt hàng thạc sĩ Lương Văn Dũng ở khoa Sinh học – Đại học Đà Lạt nghiên cứu tổng thể, toàn diện về cây lá bép (lá nhíp) với mong muốn đưa ra làm rau thương phẩm.

Ngay từ ban đầu xác định hướng điều tra, ông Dũng và cộng sự đã khẳng định phải dựa vào cộng đồng dân tộc bản địa. Thấy tri thức phong phú của người dân về sử dụng rau rừng làm thực phẩm chưa được khám phá, chưa được tư liệu hóa là một sự lãng phí lớn, nhóm ông Dũng đã thực hiện điều tra rộng khắp các vùng tại Lâm Đồng, chú trọng vào những vùng cư dân sống ở gần rừng. Nhóm nghiên cứu trò chuyện với những người già, những người hay thu hái rau rừng, theo người dân vào rừng thu hái, xử lý tiêu bản, ghi lại tên rau bằng tiếng bản địa và tiếp tục điều tra tại vùng khác, xem địa bàn phân bố và kiến thức giữa các nhóm dân cư có trùng nhau hay không.

Suốt ba năm thực hiện đề tài nghiên cứu, nhóm của ông đã thu thập được 252 tiêu bản của 126 loài rau rừng thuộc 113 chi, 72 họ thực vật được sử dụng làm rau ăn ở Lâm Đồng. Trong đó có 11 loài được sử dụng thường xuyên, nhiều nhất là cây lá bép; 32 loài vừa là rau ăn vừa là cây thuốc; một loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam; chín loài có giá trị cao, có thể đưa vào sản xuất; 28 loài mới về giá trị thực phẩm được triển khai tư liệu hóa.

Đã có đề xuất nội dung bảo tồn cho chín loài rau rừng có giá trị. Quy trình thâm canh hai loài rau cần dại và lỗ bình cũng đã được xây dựng, trong đó, quy trình thâm canh cần dại đã được chuyển giao, nhân rộng tại Công ty TNHH Cây Thuốc Việt (xã Nam Ban, huyện Lâm Hà). Bước đầu xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị cho cây lá bép ở huyện Đạ Huoai; phát triển các mô hình nuôi trồng thâm canh, thương mại hóa sản phẩm rau rừng.

Phong phú chủng loại, giàu dinh dưỡng
Năm 1971, Cục Quân nhu đã chủ biên cuốn sách Sổ tay rau rừng (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội). Năm 1994, NXB này giới thiệu thêm cuốn Một số rau dại ăn được ở Việt Nam.
Năm 2014, NXB Quân đội Nhân dân đã gộp hai tài liệu trên in thành cuốn Một số cây rau rừng thường gặp ở Việt Nam. Các tác giả đã thống kê 205 loại rau thường gặp ở rừng Việt Nam với bảng tra cứu đầy đủ tên thường gọi, tên Latinh, hình ảnh và mô tả cây, nơi sống, cách sử dụng, thành phần dinh dưỡng, ghi chú…
Đặc biệt, sách có phần hướng dẫn kiểm tra và phòng tránh rau độc, nấm độc; khai thác, bảo vệ và phát triển những cây rau rừng ăn được.

Quá trình tìm hiểu tri thức bản địa giúp nhóm nghiên cứu có một bước đột phá. Ông Dũng kể cây rau lỗ bình mọc hoang tại nhiều vùng ở Việt Nam nhưng không sách nào ghi lại, cư dân cũng không biết cây rau này có thể ăn được. Việc người K’ho ở Di Linh và Lạc Dương cho biết đây là loại rau ăn được với tên bản địa là “kơ dơl vôp” được coi là một phát hiện mới về một loài rau rừng.

Nhiều câu chuyện về rau rừng còn chứa đựng những nét văn hóa dân tộc bản địa. Chẳng hạn trong lễ hội ăn trâu của người Chu Ru ở huyện Đơn Dương không thể thiếu cây sả rừng (một loại thân gỗ có mùi như cây sả). Đối với họ, hái lá rau này mang về ướp với thịt trâu rồi nướng để cúng thần linh mới là một lễ ăn trâu trọn vẹn. Hay người Châu Mạ ở huyện Lộc Tân cho biết lá bép là một trong những món ăn khoái khẩu của tê giác, voi, nai, voọc. Trước kia, khi vào rừng, nếu họ phát hiện có dấu chân hay phân của những loài này thì biết ở đó có nhiều lá bép…

Một kho tàng rau rừng và tri thức về rau rừng trong cộng đồng dân tộc bản địa ở Lâm Đồng đã được mở ra. Việc phát triển rau rừng thành rau thương phẩm song song với bảo tồn sẽ giúp nguồn rau rừng phát triển bền vững, vừa bảo tồn nguồn gen quý, vừa cung cấp cho thị trường những chủng loại rau sạch, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm rau Lâm Đồng.

Ăn uống theo mùa (thời thực), ăn uống những thứ đặc sản của mùa (thời trân) và ăn uống những sản vật bản địa là những xu hướng ẩm thực mà người sành điệu, minh triết luôn hướng đến. Những loại rau rừng tưởng chừng đơn sơ mà thú vị thay lại bao hàm cả ba yếu tố ấy.

“Eat your view!” (ăn cảnh quan!) là một nhãn dán sau xe thường thấy ở châu Âu. Nó hàm ý việc ăn thực phẩm địa phương cũng là hành động bảo tồn. Điều ấy đúng với chuyện rau rừng.

Đỗ Quang Tuấn Hoàng – Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài gòn

лобановский александр харьков