Sình ca – tâm hồn của người Cao Lan

0
2211

Tục ngữ Cao Lan có câu “Mời ăn au đáy, máy căm đáy”, nghĩa là “có cái lấy được, không cầm được”. Đó chính là nói về sình ca (sịnh ca) – một báu vật tinh thần của dân tộc. Là người Cao Lan thì ở đâu cũng biết hát sình ca. Nhưng sình ca của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang thì độc đáo nhất và được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Theo câu hát “Đêm nay anh đến làng em/ Giếng sâu trong mát khát thèm trong tim/ Muốn uống chẳng múc được lên/ Mong người thương đến múc lên mấy gàu”, tôi ngược Tuyên.

Một đêm với Sình ca 

Hát sình ca trong đám cưới của người Cao Lan. Ảnh cắt từ phim Cao Sềnh của đạo diễn Phan Việt Hòa

Tuyên Quang là tỉnh có người Cao Lan cư trú đông nhất nước. Làng Minh Cầm (xã Đội Bình, huyện Yên Sơn) cách thành phố Tuyên Quang 15km là nơi có đông người Cao Lan sinh sống nhất. Ông Tiêu Sơn Học, 75 tuổi, trùm làng Minh Cầm, cho biết hiện nay làng gồm bốn thôn là Đoàn Kết, Dân Chủ, Cây Thị và Hòa Bình với 500 hộ gia đình. Đây là vùng đất lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống dân tộc Cao Lan, trong đó phong trào hát sình ca phát triển rất mạnh.

Trăng 16 tròn vành vạnh, tỏa ánh sáng vàng huyền ảo khắp núi đồi, thôn bản. 20 giờ, ngôi nhà sàn của gia đình bà Nịnh Thị Nhân ở thôn Đoàn Kết đã có mấy chục ông già bà cả ngồi đầy sàn. Trên sàn gỗ, trà nước, cau trầu, hoa quả, bánh kẹo đã được bày sẵn. Nam giới ngồi một bên, nữ giới ngồi một bên. Trước mặt mỗi người đều có một, hai chiếc điện thoại di động và một cuốn sổ ghi chép. Tối nay là buổi sinh hoạt Câu lạc bộ sình ca làng Minh Cầm.

Sau vài bài hát đồng ca, mọi người tách riêng từng cặp hát đối. Chốc chốc lại có tiếng điện thoại di động đổ chuông, chủ nhân của chúng nhấc máy, sau vài câu trao đổi, chiếc điện thoại biến thành cái micro để người ta cầm hát. Góc này người nữ cất lời hát du
dương, êm ái, khoan thai, nhẹ nhàng, tha thiết: “Chinh nhịt lặp săn dơn hư súi, Tếc súi lơc lài êng dằn si, Căm dị sịnh co nình hắm sếch, Hư súi lăm lơc êng dằn si (Tháng Giêng
là tiết lập xuân, Lun phun mưa xuống nước nguồn to thêm, Được hát em mới hiểu thêm,
Tháng Giêng dần hổ mưa đêm mưa ngày)”. Góc kia giọng nam kể chuyện Chúc Anh Đài giả trai đi học và kết tình huynh đệ với Lương Sơn Bá: “Nhầy nhặn cnạy khối Lậu Sạn hạc, Cnạy khối Lậu Sạn tài hạc tạng, Tộng hạc dạm nên dạm cú nhệt, Nhặt tong sôi pôn dì tọng sạng (Hai người cùng đến Lỗ Sơn học, Cùng đến Lỗ Sơn đại học đường, Cùng học ba năm và ba tháng, Ngày cùng đèn sách tối cùng giường). Rồi họ thử tài nhau bằng những câu
hát đối đáp. Cô gái hỏi: “Mờn mình họ sự sì thin kích, Mờn mình họ sự sì thin căn, Mờn mình họ sự sì thin píu, Mờn mình họ sự sì thin stăm (Hỏi chàng đâu phía chân trời, Xin hỏi
phía nào gốc rễ chàng ơi, Hỏi chàng đâu phía ngọn trời, Em xin hỏi nốt phía nào là tâm)? Chàng trai đáp: “Tông, stai, nam pác sì thin kích, Nhịt tàu sui sủng sì thin căn, Pác táu stát stênh sì thin píu, Nhằu Làng Chít Nui sì thin stăm (Đông, tây, nam, bắc là chân trời, Nơi mặt trời là gốc rễ em ơi, Bắc đẩu là chỗ ngọn của trời, Ngưu Lang Chức Nữ chính là tâm)…

Cứ thế, mọi người ngồi uống trà, ăn trầu, hút thuốc, ăn bánh kẹo, trò chuyện và hát với nhau đến tận 24 giờ mới chia tay…

Giọng hát nên vợ nên chồng 

Đến thôn Đoàn Kết hỏi về sình ca của người Cao Lan, khách sẽ được chỉ ngay đến nhà ông Âu Văn Chính, bà Nịnh Thị Nhân, cặp đôi nên vợ nên chồng nhờ sình ca. Ông Chính năm nay 76 tuổi, tự hào là “có mấy nghìn bài hát ở trong bụng rồi.” Ông giảng giải: “Sình ca có 4 x 7 = 28 chữ là một đoạn, mỗi bài 14 đoạn. Lời hát là nói vào lí hết, hát về từ cái chén, cái chân, đôi dép… hát đi. Hát đố nhau cũng có, hát chờ nhau cũng có, hát nịnh nhau
cũng có”. Thời trai trẻ, ông thường đi mấy ngày đường đến hát ở vùng Khuôn Then, xã Hùng Đức, huyện Hàm Yên hoặc thôn Mãn Hóa, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương. Mỗi lần đi hát mấy ngày mới về, mới chịu lưu luyến chia tay. Bà Nhân, 72 tuổi, thì đã học hát từ hồi còn đi chăn trâu. 14 tuổi bà đã đi hát, theo các chị đi chơi làng đến tận 12 ngày mới về. Họ rủ nhau kết thành đám đông đến các làng hát, hát đồng ca một vài bài rồi đôi nào vào với đôi ấy, thấy người con trai nào hợp thì tách ra hát giao duyên với nhau, hát nhiều lần mới thích nhau, hợp thì lấy nhau. Ông Chính mê giọng hát của bà Nhân nên cưới bà từ năm 19 tuổi, lúc đó ông 24 tuổi.

Hát sình ca giao duyên. Ảnh cắt từ phim Cao Sềnh của đạo diễn Phan Việt Hòa
Hội hát sình ca Hội Người cao tuổi thôn Cây Gạo và thôn Khán Cầu, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Mỹ Bình

Có rất nhiều đôi thành vợ thành chồng sau những đêm hát giao duyên như cặp Chính – Nhân. Ngày xưa đám con trai vào làng hát cả ngày, đám con gái ra theo đi hát thâu đêm. Mùa hát bắt đầu từ sau tháng 10 âm lịch, khi mùa màng đã thu hoạch xong, người ta đi hát đến hết tháng hai âm lịch sang năm. Tháng Giêng, từ mùng bốn là đi chơi làng suốt đến mùng mười cúng đình mới về. Sau cúng đình lại đi hát suốt đến qua rằm. Bà Nhân thuộc mấy trăm bài hát, mỗi khi đi hát bà thức cả đêm để hát hoặc nhắc lời cho người khác hát. Bà bảo hát đối đáp phải nắm bắt được nhanh, phải thuộc nhiều bài thì cuộc hát mới vui. Bây giờ, dù đều đã yếu nhưng ông Chính, bà Nhân vẫn hứng thú và vui vẻ ngồi cả đêm dẫn hát cho các thành viên câu lạc bộ. Bà Nhân đã dày công sưu tầm, ghi chép, dịch lời gần 200 bài sình ca từ tiếng Hán ra tiếng Cao Lan để lưu giữ và truyền dạy cho các hội viên. Bà không những có giọng hát khỏe, sâu, da diết mà còn sáng tác những làn điệu sình ca mới.

Đến thôn Cây Thị, tôi gặp bà Vương Thị Đệ, 63 tuổi, biết hát từ năm 19 tuổi. Bà được bố mẹ dạy hát rồi học thêm từ các đàn anh, đàn chị khi đi chơi làng. Bà bảo người nữ hát sình ca không cần xinh nhưng phải thông minh, đối đáp giỏi thì người nam mới thích. Các cụ xưa kể rằng, sình ca phải hát mười hai đêm mới hết, nhưng bà Đệ chỉ biết hát đến đêm thứ tư. Ngày xưa hát có kéo nhị, đánh thanh la để hòa nhịp, nay thì toàn hát suông. Thôn Cây Thị có nhiều người biết hát nhưng đêm đêm thường xuyên đi hát thì hiện chỉ có sáu người nam và sáu người nữ. Đang nói chuyện thì điện thoại của bà Đệ đổ chuông, sau vài câu chuyện trò, bà hát đến mười phút. Dập máy, bà cho biết là vừa hát với một ông ở huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang): “Chả biết tên là gì, người ta biết số điện thoại của mình, gọi đến thì hát thôi. Người từ khắp nơi gọi về, cứ dân tộc Cao Lan thì ở đâu cũng biết hát. Người ta gọi suốt ngày, mình có thời gian thì hát”… Người Cao Lan là thế, thích giao du và sống khoáng đạt.

Nguy cơ mai một

Câu lạc bộ sình ca làng Minh Cầm thành lập năm 2013 và hiện có 35 hội viên. Ảnh: Mỹ Bình

Sình ca ra đời gắn liền với truyền thuyết dân gian về nàng Lưu Ba tức Lưu Tam (Lau Shlam) của người Cao Lan. Nàng đã hát suốt 12 đêm liền không nghỉ rồi kiệt sức hóa thành đá trắng. Những bài hát của nàng Lưu Tam được truyền tụng trong nhân gian, được ghi chép lại thành 12 tập ứng với 12 đêm hát. Người Cao Lan tôn vinh nàng Lưu Tam là vị chúa thơ ca của mình, nàng đã sáng tác ra kho tàng thơ ca đồ sộ mà người Cao Lan hát không bao giờ hết, mỗi bài hát, mỗi câu hát tập hợp lại thành bản trường ca của dân tộc mình.

Sình ca của người Cao Lan là một di sản văn hóa phong phú, đa dạng về thể loại, có giá trị cao về nghệ thuật. Đó là một sinh hoạt văn hóa truyền thống có từ lâu đời. Đây là lối hát đối đáp giữa nam và nữ, được sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán. Những cuộc sình ca thường kéo hết ngày dài đến mười hai đêm thâu. Sình ca có hai loại, hát ban ngày và hát ban đêm. Sình ca ban ngày có môi trường diễn xướng rộng, được tổ chức trong lễ hội đầu xuân, trong đám cưới, đám tang, trong lao động sản xuất. Bà Trần Thị Mỹ Bình, Thạc sĩ Triết học, công tác tại Đại học Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang), nhận xét: “Sình ca là vốn văn hóa đặc sắc thể hiện trí tuệ, tư duy của người Cao Lan về thiên nhiên, về con người. Người Cao Lan không dùng nhiều tính từ trau chuốt để miêu tả tự nhiên mà chủ yếu mượn các vật trong tự nhiên để bày tỏ tình cảm của mình một cách mộc mạc, hồn nhiên, trong sáng.

Có thể nói sình ca là một sinh hoạt văn hóa dân gian có ý nghĩa rất đặc biệt trong đời sống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang. Nhưng trong xã hội ngày nay, cùng với nhiều phong tục tập quán khác, loại hình di sản này cũng đang bị mai một. Bà Nịnh Thị Nhân, Chủ nhiệm Câu lạc bộ sình ca làng Minh Cầm, cho biết câu lạc bộ thành lập năm 2013 và hiện có 35 hội viên. “Ngày xưa rất vui, trai gái toàn đi xã khác chơi làng và hát. Câu lạc bộ hiện giờ toàn các ông già bà cả nên không có điều kiện đi xa”. Giờ lớp trẻ biết hát sình ca rất hiếm. Như chị Âu Thị Hiền, sinh năm 1980, không hề biết hát dù mẹ chị là bà Vương Thị Đệ là một giọng hát có tiếng của làng Minh Cầm. Hỏi sao không đi hát với mẹ cho vui, chị cười bảo: “Học thì hát được thôi, nhưng không học nên không biết hát”!

Nhà sàn của người Cao Lan ở thôn 13, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Mỹ Bình

Tham dự các đêm hát, hội hát, tôi cũng chỉ thấy đa phần là các ông già bà cả. Theo bà Nguyễn Thị Thúy Hoa, cán bộ Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, người lập hồ sơ đề nghị đưa sình ca của người Cao Lan vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, hiện nay, ở Tuyên Quang số người Cao Lan biết hát sình ca còn lại không nhiều, chủ yếu là thế hệ trung niên từ 45 tuổi trở lên, đã vậy nhiều người chỉ biết hát nhưng không dịch được nội dung lời hát…

Theo Tạp chí Nông thôn Việt