Trồng cỏ dụ sếu về

0
285
Đồng cỏ bàng được bảo tồn nên từ 6 cá thể vào năm 2003, đến nay đã có hơn 237 cá thể về kiếm ăn, trú ngụ tại xã Phú Mỹ. ảnh: Trương Thanh Nhã

Tháng 11 năm 2004, một dự án lạ lùng: bảo tồn cỏ – đã ra đời tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.

Đồng cỏ bàng tập trung ở ba ấp là Tà Phọt, Kinh Mới và Trần Thệ. Trước đây, người dân tự do vào nhổ cỏ bàng về phơi khô, đan cà ròn, đệm, giỏ để sử dụng và bán sang một số địa phương lân cận. Việc khai thác tự do, tận diệt cỏ bàng khiến cây mai dương xâm lấn, gây ra nguy cơ diệt dần cỏ bàng.

Xưa kia, cỏ bàng mọc bạt ngàn ở đồng bằng sông Cửu Long. Những cánh đồng đất càng nhiễm phèn nặng, lúa cấy xuống là chết cháy thì cỏ bàng lại càng ngạo nghễ vươn lên, tốt tươi. Cũng tự bao đời, người dân nơi đây biết nhổ cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan cà ròn, đệm, chiếu, giỏ… phục vụ cuộc sống hàng ngày. Cùng với củ năn là thức ăn yêu thích, sếu đầu đỏ, loài chim đẹp, quý hiếm, có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam, cũng chọn những cánh đồng cỏ bàng làm nơi trú ngụ. Ngày ngày, người thì đi nhổ cỏ, sếu thì thảnh thơi kiếm ăn, đấu hót, nhảy múa hay giang cánh đua với ánh mặt trời… làm nên bức họa đồng quê bình yên, tuyệt đẹp. Nhưng rồi cơn lốc khu công nghiệp, vuông tôm quét qua, dân tình cũng mặc sức khai thác lộc trời đất nên diện tích cỏ bàng dần thu hẹp, sinh cảnh biến đổi theo, sếu sợ hãi bay đi, sinh kế của bà con cũng bị ảnh hưởng.

“Thành công của dự án là gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống của người dân, nhờ đó, nâng cao tính bền vững của đa dạng sinh học. Dự án đã hướng dẫn người dân địa phương khai thác, phát triển (trồng mới) và bảo vệ cỏ bàng (điều chưa từng có từ trước đến nay ở vùng này)”

Ông Lê Văn Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang

Cảnh cũ lại về

Mê sếu, loài chim lớn nhất trong các loài biết bay, lại có dáng tiên phong đạo cốt nên khi thấy diện tích đồng cỏ bàng, sinh cảnh của sếu, ngày càng bị thu hẹp, tiến sĩ Trần Triết, Trưởng khoa thực vật – môi sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM, đã viết dự án bảo vệ đồng cỏ bàng gửi dự thi và được Ngân hàng Thế giới trao giải. Từ tiếng vang đó, Hội Sếu quốc tế nhanh chóng vào cuộc, tài trợ 500.000 USD để triển khai dự án “Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang”. 447 hộ dân với hơn 1.400 người tham gia trên diện tích dự án là 342 héc ta.

Trời ngả về chiều, tôi theo chân Hà Trí Cao, Nguyễn Thế Văn, Lê Duy khoác ba lô, ống nhòm, máy ảnh, sổ sách lội bộ xuống ấp Trà Phọt. Gần một giờ bước thấp bước cao, may mắn thì được dẫm chênh vênh lên những bờ ruộng lúa nhiều khi chỉ mảnh như cái đòn gánh, không thì phải bì bõm lội xuyên qua những đồng cỏ bàng bạt ngàn, váng phèn nổi vàng khè, chúng tôi mới đến được cái chòi 16m2 của mẹ con chị Thị Phum. Chồng mất sớm, người phụ nữ 33 tuổi và ba đứa con trước chỉ quẩn quanh với năm công ruộng, chờ ai kêu gì làm đấy để rau cháo qua ngày. Từ ngày được Ban quản lý dự án đặt hàng, mỗi ngày chị đi nhổ được mười bó cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan được một tấm đệm, “được 50.000 đồng mới có tiền mà mua đồ ăn”, chị thổ lộ. Anh Hà Trí Cao, điều phối viên dự án, bảo sắp tới sẽ kêu gọi những người hảo tâm quyên góp xây tặng mẹ con chị cái nhà gạch, chị Phum cười sung sướng mà trông như mếu. Chúng tôi chia tay chị lên bờ mương ngồi chờ sếu. Trên nền trời bắt đầu nhá nhem xuất hiện hai đàn chim, một đàn dàn hàng ngang, một đàn bay theo hình mũi tên. Chưa rõ hình hài đã nghe thấy những tiếng kêu trầm đục. “Đúng rồi!”, Văn reo lên. Cao và Duy vừa xoay ống kính máy ảnh, ống nhòm vừa đố nhau xem những em chân dài chảnh chọe (Cao yêu mến gọi sếu như vậy) sẽ đáp xuống bãi nào. Tôi thì chỉ biết ngửa cổ ngắm dáng bay thanh thoát của đàn sếu. Như để tri ân sự chờ đợi của chúng tôi, hai đàn sếu lần lượt đáp xuống đồng cỏ bàng cách chỗ chúng tôi đứng chừng 200 mét. Hai mươi lăm con tất cả, con cần mẫn kiếm ăn, con ve vãn bạn tình, con nghịch ngợm đá nhau… Chiều biên cương thơ thới.

Chúng tôi về đến trụ sở Ban quản lý dự án thì trời đã tối mịt. Gặp đôi vợ chồng người Khmer: Thị Giàu – Danh Lợi, trong bữa cơm vui vẻ, đầm ấm, tôi được nghe anh chị kể chuyện đời mình. Ở quê nhà – xã Hồng Vân, tỉnh Bạc Liêu, đồng chua nước mặn không làm lúa được nên anh chị nhảy xe đò xuống xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Tính nuôi tôm nhưng rồi đất nhiễm phèn không làm được, vợ chồng đành đi làm thuê làm mướn kiếm ăn. Khi dự án triển khai, chị Giàu đăng ký tham gia ngay. Được thầy Nguyễn Văn Dạn dạy hai tháng thì chị biết may sản phẩm. “Làm ruộng thì bấp bênh, làm ở đây mỗi tháng được 2,2 triệu đồng, thấy khỏe nên tôi về bàn với chồng bỏ nghề phụ hồ vào làm dự án luôn, lương tháng công nhân ép bàng của anh cũng được 2,4 triệu đồng”. Biết tiếng Kinh và Khmer, tiếp thu tốt, lại nhanh nhẹn, chắn vén nên dần dà, anh được nhận làm thủ kho, chị quản lý sản xuất và thấy gì làm đấy, giúp Ban quản lý điều tiết công việc. “Ngày trước đi làm thuê, không biết đến đồng trăm ngàn dư trong túi; giờ đây, mỗi tháng có bạc triệu tiền lương, vui lắm. Vợ chồng bảo nhau chăm chỉ làm lụng, chắt bóp chi tiêu để nuôi hai con học đại học”, chị hồ hởi.

Hà Trí Cao, phụ trách quản lý dự án, sinh năm 1984, tốt nghiệp bộ môn động vật học, khoa Sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM năm 2007. Duyên cớ để chàng trai quê ở huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp này gắn bó với đồng cỏ bàng cũng khá lạ lùng. Tháng 11-2006, Cao theo tiến sĩ Trần Triết (Trưởng khoa thực vật – môi sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM, đại diện Hội Sếu quốc tế, chương trình Đông Dương, người khai sinh dự án bảo tồn đồng cỏ bàng Phú Mỹ) đi điều tra lấy mẫu xương sếu tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Mấy thầy trò đi điền dã ngoài cánh đồng nước phèn, gặp một chị nông dân Khmer đang xúc cá lia thia. Nhận ra đó là chị Thị Đen, công nhân của xưởng may cỏ bàng của dự án, thầy Triết dừng lại bắt chuyện.

– Sao hôm nay chị không đến xưởng làm mà lại đi xúc cá?

– Cá nhiều quá, không xúc tiếc lắm!

– Mỗi ngày xúc cá bán được bao nhiêu tiền?

– Được 5.000 đồng.

– Sao không đi làm ở xưởng, kiếm mỗi ngày 25.000 đồng. Bỏ 5.000 đồng mua cá ăn, còn 20.000 đồng để dành?

– Nhưng thế mình vẫn phải mất tiền mua mà.

Nghe lời đối đáp mộc mạc, nhìn dáng điệu đen đúa, khổ sở của người phụ nữ quê mùa, ít học này, Cao thấy nhói trong tim. Vốn thừa hưởng gene từ ba, người cả đời lăn lộn với các công việc từ thiện, hỗ trợ cộng đồng nên ngay lập tức, anh mơ ước làm được gì đó để giúp đỡ những người dân nghèo khó xứ này. Tháng 7-2007 nhận bằng tốt nghiệp, Cao đề đạt ngay với thầy Triết ý định xung phong xuống đồng cỏ bàng làm điều phối viên dự án. Thương chàng học trò công tử bột, chuyên môn là nghiên cứu cá mà giờ đi trồng cỏ với đếm sếu, thầy Triết gàn: “Khổ lắm đấy!”. “Nhưng em muốn thử sức!”, Cao quả quyết. Thế là tháng 8-2007, anh đã có mặt ở đồng cỏ bàng và thích thú ở đến tận bây giờ. Những ngày đầu, Cao mày mò đi theo công nhân từ trồng đến thu hoạch cỏ, đan đệm, làm giỏ, túi… mất một năm rưỡi mới biết hết mọi việc để quản lý cho tốt, như lời anh nói. Giờ thì “sếp” Cao yên tâm dành phần lớn thời gian đi tìm kiếm thị trường, ký kết hợp đồng và nghiên cứu khoa học.

Nghe tiếng đàn anh, rời ghế giảng đường khoa Sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM, Nguyễn Thế Văn (sinh năm 1983, chuyên ngành thực vật), Lê Duy (sinh năm 1986, chuyên ngành chim) cũng khoác ba lô xuống ăn cơm tập thể, ngủ giường tầng ở giữa đồng cỏ bàng mênh mông.

Lợi đơn lợi kép

6g45 sáng, tiếng xe máy, tiếng nói cười đã rộn rã ngoài sân trụ sở Ban quản lý dự án. Công nhân từ khắp các ấp đổ về bắt đầu một ngày làm việc răm rắp như ở khu công nghiệp. Người đan đệm, người nhịp nhàng chân nhấn công tắc mô tơ, tay lượn những tấm cỏ bàng cho đều mũi kim đường chỉ; người chuốt, tạo hình giỏ, kẹp hồ sơ, cặp sách, túi đựng nữ trang… Tiếng rì rầm trò chuyện, tiếng cười đùa thi thoảng lại rộ lên. Ít ai biết những ngày đầu xuống đây, bà con sống khép kín, ngại giao tiếp, nhiều người không nói được tiếng Kinh nên Cao phải mất hai, ba tháng mới làm quen được. “Tiếp thu chậm nên mỗi mẫu sản phẩm phải hướng dẫn mất 15 ngày họ mới quen. làm sang mẫu mới rồi quay lại làm mẫu cũ thì với họ lại như mới, phải cầm tay chỉ việc từ đầu”, Cao nhớ lại.

Cỏ bàng cao từ 1,1 mét trở lên mới được nhổ. Cúi thấp lưng, vơ lấy vài ba cây cỏ, nắm phần gần gốc, nhẹ tay giật, người ngả về phía sau là cỏ bật rễ, cứ nhịp nhàng như thế. nếu cỏ tốt, mỗi người cũng nhổ được hơn chục bó một ngày. Gánh cỏ về phơi khô, đập dập, đan thành đệm rồi đến công đoạn nhuộm. Cao ngồi ô tô lắc lư lên tận TPHCM mua bột màu, về trộn các loại với nhau để có màu ưng ý rồi hòa nước sôi để ra màu dạng lỏng. Lúc này mới trao công thức cho thợ nhuộm.

Từ những tấm đệm cỏ bàng đa sắc đó, những người phụ nữ Khmer làm thành hơn 500 mẫu sản phẩm đẹp, chất lượng giới thiệu cho khách hàng, trong đó có nhiều mẫu mã làm theo yêu cầu của các công ty xuất khẩu tại TPHCM và Hà Nội. Sản phẩm đan lát từ cỏ bàng như các loại giỏ, khay, thùng, chiếu, đệm, nón, có mặt ở thị trường nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới là Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ, Canada, Italia, Australia, Thụy Sĩ, Chile, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan. Doanh thu từ việc bán các sản phẩm cỏ bàng ước đạt gần hai tỷ đồng mỗi năm.

Anh Hà Trí Cao, điều phối viên dự án, cho biết: “Dự án đã bảo vệ được 1.200 héc ta đồng cỏ, rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60 héc ta và trồng mới 20 héc ta cỏ bàng. Dự án ra đời nhằm khoanh vùng trồng cỏ bàng, hỗ trợ người dân phân bón, bao tiêu sản phẩm. Những ruộng lúa đất xấu thì ban quản lý thuyết phục bà con chuyển sang cấy cỏ bàng. Nhờ đó, môi trường sinh thái ổn định và bền vững, trở thành nơi cư ngụ quan trọng cho sếu đầu đỏ, từ 6 cá thể vào năm 2003, đến nay, đàn sếu có hơn 237 cá thể, được các tổ chức môi trường thế giới đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, đồng cỏ bàng không những là nguồn nguyên liệu để duy trì, phát triển nghề đan lát truyền thống của địa phương, mà còn giúp người dân ở đây cải thiện, nâng cao đời sống, nhất là đồng bào dân tộc Khmer trong vùng dự án chiếm hơn 95%”.

Từ hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu sản phẩm này đã tạo việc làm ổn định cho hơn 1.000 lao động địa phương tham gia hoạt động của dự án và nhiều lao động phụ khác. Dự án đã đào tạo trên 500 công nhân thành thạo kỹ thuật đan giỏ xách, nón, may các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, với mức thu nhập từ 1,8 triệu đồng đến 4 triệu đồng/người/tháng. Khoảng 300 hộ dân, với gần 1.000 lao động trong vùng dự án nhờ bán nguyên liệu cỏ bàng, cung cấp các sản phẩm dệt tại nhà như: đệm, chiếu… thu nhập từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng. Thu nhập của người lao động có hai dạng. Lao động nhận sản phẩm về nhà làm theo đơn đặt hàng của dự án, thu nhập bình quân mỗi người từ 28.000 đồng đến 60.000 đồng/ngày. Công nhân trực tiếp làm việc tại xưởng của dự án, tùy theo sản phẩm, thu nhập từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng/người/ngày. Số lao động được ký hợp đồng với dự án, dù trong tháng không làm sản phẩm cũng được hỗ trợ 100.000 đồng.

Sau gần chín năm thực hiện, dự án đã bảo vệ được 1.200 héc ta đồng cỏ, rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60 héc ta và trồng mới 20 héc ta cỏ bàng, tạo việc làm ổn định cho hơn 1.000 lao động địa phương bằng nghề thu hoạch và làm hàng thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng. ảnh: Thảo Lư

Ông Lê Văn Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang, phấn khởi: “Thành công của dự án là gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống của người dân, nhờ đó, nâng cao tính bền vững của đa dạng sinh học. Dự án đã hướng dẫn người dân địa phương khai thác, phát triển (trồng mới) và bảo vệ cỏ bàng (điều chưa từng có từ trước đến nay ở vùng này). Thay vì bán đổ tháo nguyên liệu thô như trước đây, người dân được học làm những mặt hàng thủ công, mỹ nghệ từ cỏ bàng để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhờ đó, thu nhập của các hộ dân trong vùng dự án đã tăng gấp ba lần so với trước. Dự án đồng cỏ bàng Phú Mỹ trở thành một trong những điểm tập trung sếu đầu đỏ đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, dự án đã hai lần được nhận giải thưởng của Liên hiệp quốc, kèm phần thưởng 80.000 USD. Hiện nay, Hội Sếu quốc tế tiếp tục tài trợ thêm 150.000 USD để triển khai giai đoạn ba của dự án.

– Thạc sĩ Nguyễn Văn Được, thành viên Ban chỉ đạo dự án, cho biết: “Ban quản lý dự án đang kết hợp với Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên – môi trường tỉnh Kiên Giang tiến hành đo đạc, quy hoạch 753 héc ta cỏ bàng nằm trong khu vực có hộ dân sinh sống để giao khoán và hướng dẫn bà con khai thác, bảo tồn. Người dân đã quý cỏ bàng như vàng vì có cỏ, họ mới có công ăn việc làm, có thu nhập tích lũy cho cuộc sống. Điều mà trước đây chưa từng có ở Phú Mỹ”.

  • Thạc sĩ Lương Thanh Hải – Giám đốc Sở Khoa học – công nghệ tỉnh Kiên Giang, cho biết: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang chuẩn bị thông qua quy hoạch Khu bảo tồn loài – sinh cảnh đồng cỏ bàng Phú Mỹ. Mục tiêu của dự án thành lập khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ là giữ lại đồng cỏ bàng duy nhất còn tồn tại được ở đồng bằng sông Cửu Long để làm nơi di trú theo mùa cho sếu đầu đỏ – một loài chim quý hiếm rất nhạy cảm với môi trường.
    Diện tích khu bảo tồn dự kiến gần 2.900 héc ta, trong đó có 1.200 héc ta là vùng lõi – cũng là diện tích của khu bảo tồn đồng cỏ bàng hiện nay. Trong những năm qua, nhờ dự án bảo tồn đồng cỏ bàng do Hội Sếu quốc tế tài trợ mà lượng sếu đầu đỏ về Phú Mỹ hàng năm đều tăng lên. Năm 2012 vừa rồi đã ghi nhận có khoảng 200 cá thể sếu đầu đỏ di trú về khu vực Phú Mỹ và một số nơi thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương để tìm kiếm thức ăn.
    Không chỉ tạo nơi di trú cho sếu, dự án đồng cỏ bàng Phú Mỹ còn giúp khôi phục nghề thủ công truyền thống sản xuất đồ gia dụng và hàng thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu cỏ bàng.
  • Mùa sếu đầu đỏ về là từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm, tháng 3 là thời điểm sếu về nhiều nhất. Đây cũng là lúc đồng cỏ bàng Phú Mỹ thu hút đông đảo những người yêu thiên nhiên, nhà khoa học về xem và nghiên cứu sếu. Mực nước phù hợp cho sếu ngủ là từ ba mét đến bốn mét. Xem sếu thích hợp nhất là trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ 30 phút.
  • Đáng buồn là 120 héc ta bãi ngủ của sếu ở ấp Vàm Hàng vẫn bị 15 hộ dân chiếm đất nuôi tôm. Nước cao nên sếu không đậu được hoặc có đậu cũng bị người dân săn đuổi, đánh động (vì sợ sếu bắt tôm) thế nên chúng sợ hãi bay đi hết. Và trên cánh đồng, vẫn còn những tấm lưới giăng thiên la địa võng để bắt sếu về vặt lông bán, lấy thịt ăn.

Nguồn: Sài Gòn Giải Phóng thứ bảy

Фільчаков Олександр Васильович